chương I sẽ phân tích xu hướng hình thành các hiệp định đầu tư quốc tế trên thế giới hiện nay, nghiên cứu chính sách thu hút FDI của Việt Nam, sự điều chỉnh trong chính sách FDI của Nhật Bản và xu hướng đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trước khi ký kết Hiệp định , từ đó khẳng định tính đúng đắn của việc ký kết Hiệp định này trong bối cảnh hiện nay.1 Xu hƣớng hình thành các hiệp định đầu tƣ quốc tế Chúng ta biết rằng, các nhà đầu tư nước ngoài luôn mong muốn và lựa chọn đầu tư vào những địa điểm sẽ đem lại hiệu quả. Điều đó có nghĩ a là đồng vốn mà họ đem đầu tư phải được đảm bảo. Còn về phía mình, các nước nhận đầu tư, mà cụ thể là các quốc gia đang phát triển luôn cố gắng tiếp cận nguồn FDI nhằm đẩy nhanh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng như hoạch định các chính sách để tập trung thu hút FDI. Chính vì vậy, trong thời gian qua, các quốc gia này rất nỗ lực trong việc cải thiện môi trường đầu tư của mình.
Việc ký kết các hiệp định đầu tư quốc tế giúp cho các nước tiếp nhận đầu tư có khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đâù tư trực tiếp nước ngoài. Nó đòi hỏi các bên phải tạo lập và giành những ưu đãi cho nhau nhằm đáp ứng được lợi ích cho chính các nhà đầu tư cũng như cho các nước tiếp nhận đầu tư. Bởi vì, chúng là cơ sở pháp lý và tiền đề cần thiết để đảm bảo tin 11 tưởng cho các nhà đầu tư khi đầu tư ở nước ngoài. Đây là các yếu tố quan trọng có tính quyết định đến việc thúc đẩy dòng vốn đầu tư ra nước ngoài.
Đồng thời, các hiệp định đầu tư này phù hợp với bối cảnh hiện nay về hội nhập kinh tế quốc tế cũng như quá trình tự do hoá thương mại và đầu tư trong phạm vi khu vực và toàn cầu. Bởi vì, nội dung của các hiệp định này quy định nhiều nguyên tắc cơ bản nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong quá trình tiếp cận và kinh doanh ở nước nhận đầu tư. Môi trường đầu tư nước ngoài của một quốc gia có thể thay đổi khi nước tiếp nhận đầu tư ký kết hoặc tham gia Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương, khu vực và đa phương.1 NHỮNG THAY ĐỔI TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA CÁC QUỐC GIA VỀ FDI TỪ 1995-2003 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 -Số lƣợng các nƣớc đƣa 64 65 76 60 63 69 71 70 82 ra những thay đổi trong quy chế đầu tƣ -Các quy định thay đổi 112 114 151 145 140 150 208 248 244 Trong đó: a + Hấp dẫn hơn 106 98 135 136 131 147 194 236 220 b + Kém hấp dẫn hơn 6 16 16 9 9 3 14 12 24 Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2004 a: Bao gồm cả những thay đổi về tự do hoá và những thay đổi làm tăng chức năng của thị trờng cũng nh khuyến khích. b: Kể cả những thay đổi làm tăng kiểm soát và giảm khuyến khích.
12 FDI toàn cầu liên tục giảm sút khiến các nước cạnh tranh quyết liệt hơn để thu hút FDI. Theo UNCTAD, 56% các quốc gia đợc điều tra cho biết chính phủ của họ sẽ tăng cường nỗ lực thu hút FDI. Còn hơn 1/2 trong số này trả lời rằng sẽ chú trọng đến công tác xúc tiến đầu tư , 21% và 24% các nước này nói sẽ đa thêm các sáng kiến tạo thuận lợi cho đầu tư và tự do hoá hơn nữa. Chỉ riêng trong năm 2002 đã có 248 thay đổi luật pháp của 70 nớc, trong đó 236 thay đổi nhằm tạo thuận lợi cho FDI và 1/3 số này liên quan đến các biện pháp xúc tiến đầu tư.
Hiện nay, châu Á là nơi nỗ lực thu hút đầu tư quốc tế nhất. Tại khu vực này, từ số lượng 100 chính sách tạo thuận lợi cho hoạt động FDI trong năm 2001 đã tăng lên 119 năm 2002. Năm 2003, trên thế giới đã xuất hiện 244 thay đổi về luật pháp và những quy định nhằm tác động đến dòng vốn FDI, trong đó có 220 thay đổi trực tiếp liên quan đến tự do hoá đầu tư. Ngoài ra, chính phủ các nước tiếp nhận đầu tư còn thực hiện hàng loạt các biện pháp hỗ trợ thúc đẩy đầu tư như mở cửa ngành dịch vụ cho FDI kể cả dịch vụ liên quan đến cơ sở hạ tầng; thành lập cơ quan xúc tiến đầu tư nhằm thu hút FDI, thuê mặt bằng đầu tư v.
Các khu công nghiệp ở các nước đang phát triển vốn là nơi được lập ra để tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhất thu hút FDI, đây cũng là nơi có thể đón xu hướng chuyển ngành dịch vụ ra nước ngoài của các TNC để thu hút FDI vào ngành dịch vụ. Nói cách khác, xu hướng hình thành các hiệp định đầu tư quốc tế xuất phát từ chính sách tự do hoá đầu tư gắn liền với nhu cầu hoàn thiện môi trường đầu tư tại nước tiếp nhận đầu tư. Đây là một nhân tố quan trọng nhằm tạo nên môi trường đầu tư thông thoáng, có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Vì vậy, việc ký kết các hiệp định đầu tư giữa nước đầu tư với nước nhận đầu tư là yếu tố quan trọng thúc đẩy các doanh nghiệp của nước đầu tư tích cực đầu tư ra nước ngoài.
Các hiệp định đầu tư quốc tế (International Investment Agreements- IIAs) như là các công cụ hỗ trợ để thu hút đầu tư nước ngoài. Các hiệp định này đưa ra những tín hiệu rõ ràng hơn nhằm bảo đảm quyền lợi cho các nhà đầu tư quốc tế và chúng cũng đưa ra lời cam kết mạnh mẽ hơn đối với các nhà đầu tư về tính ổn 13 định của các quy định đó[1] Bằng chứng là số lượng IIAs trên thế giới được ký kết đang tăng lên nhanh chóng và các hiệp định này được tiến hành ở mọi cấp độ: song phương, khu vực và đa phương, trong số đó, việc ký kết các hiệp định song phương là phổ biến nhất. Như vậy, để đảm bảo cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được diễn ra có hiệu quả thì các quốc gia đã và đang ký kết các hiệp định đầu tư dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong tương lai, xu hướng tự do hoá đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ phát triển mạnh theo hướng hình thành nền kinh tế toàn cầu thống nhất.1 Xu hướng hình thành hiệp định đầu tư đa phương Trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế, lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài đã và đang đóng một vai trò quan trọng, tuy nhiên vẫn còn thiếu những hành lang trật tự về cạnh tranh quốc tế.
Do vậy, một hiệp định đầu tư đa phương sẽ là cơ sở cho một khuôn khổ trật tự kinh tế thế giới và các bước tiếp theo. Nói cách khác, nó thể hiện sự tự do hoá đầu tư đa phương. Điển hình nhất là các vấn đề đầu tư liên quan đến thương mại trong khuôn khổ WTO. Một kế hoạch toàn diện hơn đang được các quốc gia trên thế giới bàn thảo về tự do hoá đầu tư đa phương là Hiệp định đầu tư đa phương.
Hiệp định đầu tư đa phương (Multibilateral Agreement on Investment - MAI) là hiệp định được ký kết giữa các chính phủ của một nhóm nước với nhau. Để đạt được sự nhất trí cao trong việc tiến hành các thoả thuận đầu tư, các quốc gia đang phát triển cần phải đưa ra một số nội dung liên quan đến quyền lợi của họ trong bàn đàm phán. Bởi vì, MAI đề ra những nguyên tắc chống phân biệt đối xử, hỗ trợ và bảo hộ sở hữu có hiệu lực toàn cầu. Bên cạnh đó, hiệp định này sẽ giúp thống nhất được các cơ chế trọng tài xét xử đối với các trường hợp tranh chấp.
Tức là, một khung pháp luật sẽ được hình thành nhằm giải quyết các tranh chấp mậu dịch. Hơn nữa, nó sẽ giúp các nước chủ nhà có tiềm năng nâng cao vị [1] Xem nội dung cơ bản của hiệp định đầu tư song phương, tr. 19-20 14 thế của mình trong đàm phán với các Công ty xuyên quốc gia (TNCs). Bởi vì, với hiệp định đầu tư đa phương nói trên thì các nước đang phát triển có thể hạn chế được mặt trái ở thái độ tiêu cực của các Công ty này.
Một trong những vấn đề chúng ta nhận thấy đó là các thoả thuận đa phương có thể sẽ mở ra những cơ hội bình đẳng cho các bên trong việc tiến hành đàm phán ký kết. Có như vậy, thì MAI mới tạo lập kế hoạch vững chắc hơn dẫn đến nâng cao tính hấp dẫn của FDI và giúp cho mọi quốc gia, trong đó có các nhà đầu tư tin tưởng hơn vào quá trình tự do hoá. Ngoài ra, một hiệp định đa phương như vậy sẽ góp phần quan trọng trong việc tạo ra sự giao lưu và tiếp cận với các quy định về đầu tư hiện hành. Nó sẽ giúp cho các quyết định đầu tư của doanh nghiệp có cơ sở vững chắc và sẽ tác động tích cực hơn tới hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Trái với thực tế là văn bản tách biệt được gọi là “hiệp định”. Về bản chất, tất cả hiệp định TRIMs là làm rõ việc áp dụng Điều khoản GATT III.4, về đối xử quốc gia, và XI.1, về các rào cản định lượng. Hiệp định thậm chí không định nghĩa biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại là gì. Thay vào đó, cách tiếp cận được sử dụng là đưa ra một danh sách các biện pháp không phù hợp với hai đoạn nêu trên của GATT.
Danh sách này bao hàm TRIMs có tính bắt buộc hoặc có hiệu lực thực hiện theo luật trong nước và cả các biện pháp cần thiết phải tuân thủ để đạt được lợi thế. Không có nội dung nào giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc đối xử quốc gia đối với nhà đầu tư. Hiệp định này là một nỗ lực tương đối khiêm tốn về việc tăng tính kỷ luật của các chính sách đối với doanh nghiệp nước ngoài và là kết quả của các quan điểm khác nhau về mức độ đưa nội dung đầu tư vào WTO. Khi so sánh hiệp định TRIMs với các điều khoản đầu tư khác, hoặc với các nỗ lực đa phương về quy tắc đầu tư, gồm cả các quy tắc không ràng buộc như các quy tắc của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), hoặc hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới (WB), thì hiệp định này có 15 phạm vi hẹp.