Chương 1: Tong quan tình hình nghiên cứu Tổng quan các bài nghiên cứu trong và ngoài nước có cùng chủ đề hoặc nội dung liên quan đến xuất nhập khẩu, thương mại quốc tế, xuất khâu ngành gạo; các nghiên cứu sử dụng mô hình trọng lực dé phân tích sự ảnh hưởng của thương mại song phương. Tìm ra các lỗ hồng trong các nghiên cứu trước và tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và cơ sở khoa học về ngành xuất khẩu gạo, hiệp định EVFTA va mô hình trọng lực Chương 2 đưa ra cơ sở lý luận về ngành gạo, hiệp định thương mại tự do EVFTA. Bên cạnh đó đưa ra cơ sở ly luận, lý thuyết về mô hình trọng lực và cơ sở thực tiễn kinh nghiệm trong ngành xuất khẩu gạo của một số nước như Thái Lan, Ấn Độ.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở lý luận của chương | và chương 2 đưa ra mô hình nghiên cứu. Giải thích các biên được chọn đê đưa vào mô hình hôi quy. Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến ngành xuất khẩu gạo tại Việt Nam trong thời gian thực thi EVFTA Chương 4 đưa ra kêt quả nghiên cứu về các yêu tô ảnh hưởng đên xuât khẩu gạo tại Việt Nam khi tham gia vào hiệp định thương mại tự Việt Nam — EU 20 qua mô hình định lượng của chương 3 và đánh giá sự tham gia của Việt Nam trong thời gian thực thi hiệp định EVFTA Chương 5: Hàm ý chính sách nhằm nâng cao phát triển ngành xuất khẩu gạo trong thời gian tới. Chương cuối cùng đưa ra một số giải pháp và kiến nghị cho Chính phủ và doanh nghiệp ngành sản xuất lúa gạo nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trong hiệp định thương mại tự do song phương Việt Nam và EU.
21 CHUONG 1: TONG QUAN TINH HINH NGHIÊN CUU 1. Tong quan các tài liệu về van dé nghiên cứu 1. Tài liệu trong nước Theo bài nghiên cứu trên tạp chí Khoa học ĐHQGHN (2014): Kinh tế và Kinh doanh “Giải pháp nâng cao xuất khẩu gạo tại Việt Nam” của tác giả Phan Ngọc Trung xuất khâu gạo từ lâu đã mang lại một nguồn ngoại tệ không nhỏ cho nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bài viết đã phân tích tình hình sản xuất gạo trên thế giới, nêu rõ một số vấn đề chính mà thị trường gạo thế giới ảnh hưởng đến việc xuất khâu gạo của Việt Nam.
Bài viết cũng đánh giá toàn diện về thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam trong thời gian gần đây, và từ đó nêu rõ những thách thức mà hoạt động xuất khâu gạo gặp phải trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục trong tương lai. Tác giả Võ Minh Sang và Đỗ Văn Xê cùng với bài nghiên cứu “Lợi thế so sánh trong sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam” (2016) đã cho rằng Việt Nam nằm trong top 3 trên thế giới về xuất khâu gạo từ 2000 - 2015, lợi thế so sánh khá lớn. Nghiên cứu nhằm mục tiêu phân tích thực trạng lợi thế so sánh trong sản xuất - xuất khẩu gạo của Việt Nam và các nguyên nhân tác động đến lợi thế so sánh trong xuất khâu gạo. Từ đó đề xuất giải pháp nâng cao lợi thế so sánh trong xuất khẩu gạo của Việt Nam.
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, dữ liệu sơ cấp được thu thập từ nông hộ sản xuất lúa ở ĐBSCL, mẫu được chọn bằng phương pháp phân tầng ngẫu nhiên. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng Việt Nam đã không còn lợi thế so sánh trong xuất gạo từ năm 2013-2015. Nguyên nhân do giá gạo xuất khâu liên tục giảm, trong khi chi phí lại tăng. Tác giả cũng đưa ra giải pháp rang sẽ Quy hoạch lại khâu tô chức sản xuât, nhăm cân đôi cung - câu về sô lượng và gia tăng chủng loại gạo chat lượng 22 cao, để tăng giá xuất khâu.
Ngoài ra, đây mạnh áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất - chế biến và nâng cao giá trị thương hiệu gạo Việt. Bài nghiên cứu “Tham gia TPP Cơ hội và thách thức đối với xuất khâu gạo của Việt Nam” Hà Văn Hội (2015). Tác giả cho rằng TPP được đánh giá là Hiệp định của thế kỷ XXI. Hiệp định này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có xuất khẩu gạo.
Bài viết phân tích về tình hình sản xuất và xuất khâu gạo của Việt Nam trong thời gian qua; làm rõ cơ hội và thách thức của xuất khâu gạo khi tham gia TPP; đồng thời đề xuất một số biện pháp chính, góp phan tăng khối lượng và kim ngạch xuất khâu gạo của Việt Nam trong thời gian tới. Qua bài nghiên cứu ta có thé thay rõ được tác động của TPP đến xuất khẩu gạo của Việt Nam và từ đó cũng mở ra những nghiên cứu khác. Bài nghiên cứu về phân tích và đánh giá tác động của Hiệp định EVFTA đến xuất khâu thuỷ sản của Việt Nam sang EU của Đặng Xuân Thanh (2020). Tác giả phân tích những cam kết mà EU dành cho thuỷ sản của Việt Nam xuất khâu sang EU và đánh giá thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang EU.
Thêm vào đó là những tác động của Hiệp định EVFTA đến xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang EU và chỉ ra những cơ hội và thách thức dành cho xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong những năm tiếp theo khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực. Cuối cùng tác giả đưa ra một số hàm ý nhằm hỗ trợ Việt Nam tận dụng được các cơ hội, vượt qua các thách thức từ EVFTA dé day mạnh xuất khâu thuỷ sản của Việt Nam sang EU. Từ phân tích của tác giả đối với ngành xuất khẩu thủy sản cho phép nhìn rộng ra cơ hội thách thức của toàn ngành chế biến nông, lâm, thủy sản Việt Nam, trong đó có ngành xuất khâu lúa gạo. Tài liệu nước ngoài Bài nghiên cứu về “Price relations between export and domestic rice markets in Thailand” của ông Adam John cho rằng nhiều quốc gia nhập khâu gao cho rang cac quéc gia xuat khau gạo cô lập thi trường nội địa của họ thông qua việc sử dụng các chính sách giá bình ôn khiến thị trường gạo quốc tế trở nên biến động quá mức.
Nghiên cứu về Thái Lan - truyền thống là nước xuất khâu gạo lớn nhất thé giới. Kết quả lại cho thay rằng trong khi các cú sốc bắt nguồn từ thị trường nội địa có mức độ lớn hơn ở thị trường xuất khẩu trong ngắn hạn, các cú sốc bắt nguồn từ thị trường xuất khâu còn dai dang hơn ở thị trường nội địa. Điều này cho thấy rằng mặc dù các chính sách nội địa của Thái Lan có phần hiệu quả trong những tháng trước mắt sau cú sốc nhưng họ cho phép giá truyền từ thị trường xuất khâu của mình chuyên sang thị trường nội địa trong dải hạn. Vì thế các chương trình định giá nội địa của Thái Lan không làm sai lệch nhiều so thị trường gạo thế giới.S rice export market” đã phân tích thị trường xuất khâu gạo của Hoa Kỳ theo loại gạo xuất khâu và mô tả các xu hướng gan đây trong mỗi thị trường.
Mặc dù Hoa Kỳ đã mất thị phần trên thị trường gạo lứt và gạo xay kết hợp, nhưng nước này lại là nhà cung cấp gạo thô hàng đầu, trong đó Châu Mỹ Latinh chiếm phân lớn các lô hàng. Năm 1999 và 2000, gạo thô chiếm gần 30% tổng lượng gạo xuất khẩu của Hoa Kỳ, một lượt chia sẻ gần kỷ lục. Ngược lại, ké từ giữa những năm 1990, Hoa Kỳ đã dần dần mat thi phần trên thị trường gạo xay toàn cầu, chủ yếu là do các nhà xuất khẩu châu A có chi phí thấp hơn. Thị trường gạo xay của Mỹ có thé được hưởng lợi từ luật gần đây cham dứt các biện pháp trừng phạt đơn phương đối với xuất khâu thực phẩm và thuốc sang lran và Cuba.
24 Nhà nghiên cứu Pimbucha Rusmevichientong, Harry M. Kaisers trong “Measuring the effectiveness of U. rice export promotion program” da chi ra Ba van đề liên quan đến xúc tiến xuất khâu gạo của Hoa Kỳ. Thứ nhất, kha năng đáp ứng nhu cầu xuất khẩu gạo của Hoa Kỳ đối với việc thúc day xuất khâu gạo của Hoa Kỳ được đo lường để xác định tác động về số lượng của các chương trình nay.
Thứ hai, hiệu quả tổng thé của các chương trình được kiểm tra về việc liệu lợi ích có vượt quá chi phí hay không. Cuối cùng, nghiên cứu mức độ tối ưu của việc thúc day xuất khâu gạo của Hoa Kỳ về mức chi tiêu. Phương trình cầu xuất khâu logarit kép được ước tính dé tính toán độ co giãn thúc đây xuất khâu đồng thời kiểm soát các yếu tố quyết định nhu cầu khác như giá riêng, giá xuất khẩu của các nước cạnh tranh, thu nhập và tỷ giá hối đoái. Tỷ lệ lợi ích - chi phí trung bình được tính cho Hoa Ky xúc tiễn xuất khâu gạo dựa trên một loạt các hệ số co giãn giá riêng của cung dư thừa dé tính toán hiệu quả của các chương trình.
Cuối cùng, một phân tích mô phỏng cận biên được thực hiện dé khám phá tính tối ưu của việc đầu tư vào xúc tiến xuất khẩu gạo. “Export Liberalization and Household Welfare: The Case of Rice in Vietnam” Nicholas Minot, Francesco Goletti đã cho rang Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thé giới, bat chap hạn ngạch xuất khẩu ràng buộc. Bài báo này sử dụng mô hình cân bằng không gian đa thị trường dé xem xét tác động của việc tự do hóa hơn nữa đối với giá gao trong khu vực. Dữ liệu hộ gia đình sau đó được sử dụng dé tính toán tác động phúc lợi của những thay đổi giá này đối với các nhóm hộ gia đình khác nhau.
Kết quả cho thay mặc dù tự do hóa xuất khẩu gạo sé làm tăng giá lương thực và làm trầm trọng thêm bat bình đăng trong khu vực, nhưng nó cũng sẽ làm tăng thu nhập thực tế trung bình và giảm (một chút) tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của đói nghèo. 25 Trong bài bao “Competitiveness of Pakistani rice in international market and export potential with global world: A panel gravity approach” tac gia Muhammad Saqib Irshad cho rang gạo là một nguồn quan trọng cho thu nhập ngoại hối của nền kinh tế Pakistan. Nghiên cứu này nhằm tính toán khả năng cạnh tranh của xuất khâu gạo của Pakistan trên thị trường quốc tế so với các nước xuất khẩu lớn nhất bài viết đã tìm ra các quốc gia tiềm năng xuất khẩu gạo của Pakistan sang 144 quốc gia trong giai đoạn 2003-2016.