Chương 1: Giới thiệu dé tài. Chương nay nêu tong quan về nghiên cứu, lý do hình thành dé tài, trình bay mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và bố cục của dé tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương hai sẽ trình bày các khái niệm, lý thuyết về vốn xã hội, trang web mạng xã hội, việc Facebook tác động lên vốn xã hội, động cơ thúc đây sử dụng Facebook.
Ngoài ra còn bao gồm các nghiên cứu có liên quan đã thực hiện trước đây, mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu từ mô hình. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương ba trình bảy về việc thiết kế mẫu. thiết kế bảng câu hỏi, nghiên cứu định tính sơ bộ, các kỹ thuật kiểm định thang đo và kiểm định các giả thuyết đã đề ra.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương bốn trình bày về kết quả phân tích dữ liệu, các thang đo và các giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận và bác bỏ vả thảo luận kết quả thu được cũng như so sánh với kết quả của các nghiên cứu trước đây. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, đưa ra những hàm ý quan tri, kết luận va những mặt hạn ché của bài nghiên cứu và phương hướng nghiên cứu tiếp theo.
Phụ lục: Gồm 8 phụ lục trình bày các kết quả nghiên cứu định tính sơ bộ, định lượng chính thức và bảng câu hỏi khảo sát trước và sau hiệu chỉnh. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Đi ngược thời gian, một trong những cột mốc chính của vốn xã hội có lẽ là Pierre Bourdieu, nhà xã hội học va triết học người Pháp (Trần Hữu Dũng, 2003). Bourdieu viết: "Vốn xã hội là một thuộc tính của mỗi cá nhân trong bối cảnh xã hội.
Bất cứ ai cũng có thê thu nhập một số vốn xã hội néu người đó nỗ lực và chú tâm làm việc ây, hơn nữa bất cứ ai cũng có thể dùng vốn xã hội để đem lại những lợi ích kinh tế thông thường. Tuy nhiên, khả năng thực hiện điều ấy tùy thuộc vào những trách nhiệm xã hội (social obligation), kết nối (connection) và mạng lưới xã hội của người ấy". Trong khi đó, James Coleman (1988) chấp nhận vốn con người là quan trọng và coi vốn xã hội luôn luôn có ích và nó đóng góp vao sự hình thành của vốn con người. Theo Coleman (1988), vốn xã hội có ba đặc tính : tin cay, mối liên hệ, quy tắc xã hội.
Đến 1995, Robert Putnam dùng cụm từ vốn xã hội cũng với ý nghĩa giỗng như Coleman để phân tích sự suy giảm vốn xã hội ở Mỹ từ những ảnh hưởng của môi trường, công nghệ. Đi xa hơn, Fukuyama cho rằng vốn con người va vốn xã hội có ảnh hưởng lẫn nhau. Cụ thể, theo ông, vốn con người có thể làm tăng vốn xã hội (người có học sẽ ý thức hơn tầm quan trọng của việc quan tâm đến con cái, và ngược lại, khi con cái được quan tâm thì chúng sẽ cỗ găng học hành, trau dồi vốn con người) (Trần Hữu Dũng, 2003). Mặc dù có nhiều nhà nghiên cứu với nhiều khái niệm, nhiều hướng khai phá vốn xã hội nhưng có một sự đồng ý răng vốn xã hội là một yếu tố quan trọng của nền dân chủ mạnh mẽ và hiệu quả (Putnam & Goss, 2002).
Vốn xã hội không có một định nghĩa rõ ràng cho nội dung và tư tưởng (Dolfsma & Dannreuther, 2003; Foley & Edwards, 1997). Vì vậy không có định nghĩa chung cho vốn xã hội và định nghĩa cụ thể bởi một nghiên cứu sẽ phụ thuộc vào chuyên ngành và mức độ điêu tra của nghiên cứu đó. Các tác giả đã xác định rằng các định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào việc họ tập trung vào van dé thực tế, nguồn gốc hoặc những ảnh hưởng của vốn xã hội (Robison va cộng sự 2002). Tuy nhiên ý tưởng cốt lõi của vốn xã hội là các nguồn lực sẵn có cho mọi người thông qua các tương tác xã hội của họ (Lin, 2001; Putnam, 2004).
Qua các bài nghiên cứu trên, các nhà nghiên cứu đã xác định cầu trúc của vốn xã hội bao gồm sự tin tưởng xã hội, sự hài lòng của cuộc sống, tham gia quyền công dân và một số các khái niệm khác (Coleman, 1988; Dekker & Uslaner, 2001; Putnam, 1995, 2000) 2.1 Sự hài long cuộc sống (Life satisfaction) Sự hài lòng của cuộc song là cach một người cảm nhận cuộc song cua minh va cam nhận về nó sẽ như thé nào trong tương lai. No là thước đo hạnh phúc va có thé được đánh giá bởi tâm trạng, sự hài lòng với mối quan hệ với người khác, mục tiêu đạt được và khả năng tự nhận thức để đối phó với cuộc sống hàng ngày (Wikipedia, 2012). Nó phản ánh đánh giá tong quát môi trường xung quanh của con người, đánh giá có thé là tích cực hay tiêu cực (Scheufele & Shah, 2000). Bên cạnh đó, Kahneman & Krueger (2006) nhận thay rang su hai long cudc song ca nhan duoc xac dinh mot phan boi cac mối quan hệ xã hội của họ.
Như vậy, sự hài lòng cuộc sống có những ảnh hưởng tích cực đến con người. Nó có khả năng thúc đây mọi người theo đuôi và đạt được mục tiêu của họ (Bailey, T. Theo Seligman (2002), những người hạnh phúc là những người ít tập trung vào các ý nghĩ tiêu cực, họ cũng có xu hướng cô gang dat được sự hài lòng với cuộc sống cao hơn.2 Tin tướng xã hội (Social trust) Theo Robert Putnam (2000, p. 137), sự tin tưởng xã hội được coi là chat keo dé két dinh và hop tác trong cộng đồng.
Những người tin tưởng xã hội thường là người dân ở thành thị, có sự hợp tác và tham gia vào đời sống cộng đồng nhiều hơn. Sự tin tưởng được mong muốn sinh ra thường xuyên trong một cộng đồng cùng với sự trung thực, hợp tác và hành vi, dựa trên các tiêu chuẩn và trên các thành viên khác của cộng đông. Vốn xã hội được xây dựng từ sự phố bién của sự tin tưởng trong một xã hội hoặc trong một phan của nó. Nó có thê được thê hiện từ trong các nhóm nhỏ nhât và cơ bản nhât xã hội, gia đình, đến lớn nhất, quốc gia, va trong tất cả các nhóm khác (Fukuyama, 1996).3 Sự tham gia dân sự (Civic participation) Sự tham gia dân sự được định nghĩa là hành vi cá nhân hoặc tập thê nhằm giải quyết các van dé của cộng đồng (Zukin, Keeter, Andolina, Jenkins & Delli-Carpini, 2006).
Tình nguyện để giúp gây quỹ người nghèo cho các tổ chức phi chính phủ, tham gia vào các dịch vụ cộng đồng hoặc là một thành viên tích cực của một tổ chức môi trường, tất cả đều là sự tham gia dân sự. Trong sự tham gia dân sự có nhiều yếu tố, nhưng yếu tố cơ bản nhất của nó là việc ra quyết định và các nguôn lực của cộng đồng sẽ được phân bồ cho ai, bởi ai và như thé nào. Sự tham gia dân sự để xác định lợi ích công cộng, xác định các chính sách mà họ được hưởng để tìm kiếm sự tốt hơn và cải cách hoặc thay thế các tô chức ma không phục vụ tốt cho xã hội (Korten, 1998).4 Trang web mạng xã hội Các trang web mạng xã hội là một hình thức của cộng đồng ảo, cho phép mọi người kết nối và tương tác với nhau (Murray & Waller, 2007). Các mạng xã hội cho phép người dùng xây dựng một hồ sơ cá nhân, lập một danh sách người dùng khác mà họ kết nối và xem danh sách các kết nối của những người khác trong mạng lưới xã hội của họ.
Trên rất nhiều các mạng xã hội, người tham gia không nhất thiết phải xây dựng kết nối xã hội của họ hoặc tìm cách để gặp gỡ những người mới, thay vào đó, họ chủ yếu giao tiếp với những người đã là một phan mạng xã hội của ho tức la đã có quan hệ trong đời song thuc trước đó (Boyd & Ellison, 2007). Tham gia vào các mạng xã hội trực tuyến trở thành một cách trao đôi thông tin liên lạc mới và thực hiện các tương tác. Với tốc độ phát triển công nghệ mạnh mẽ, công nghệ truyền thông Internet đã tạo ra rất nhiều mạng xã hội pho bién, vi du nhu Facebook, Twitter, Yahoo, Myspace, Google, Zingme,. Facebook hiện nay là trang mạng xã hội lớn va phô bién nhất theo thông kê của trang web www socialbakers.
Đầu tiên, Facebook giúp xây dựng một tai khoản cá nhân trong đó cho phép nhiễu kênh thông tin phản hồi giữa người dùng với nhau. Ví dụ, có hai loại dịch vụ tin nhắn trong Facebook. Một hệ thống cá nhân, tương tự dịch vụ email dựa trên web và một hệ thống công cộng được gọi "The Wall", nơi mà bạn bè, người dùng khác có thể viết và xem các lời bình luận. Một hình thức thông tin phản hồi trong Facebook là người dùng có thé chap nhận kết bạn hoặc từ chỗi kết ban với người dùng khác.
Đề giữ cho người sử dụng cập nhật về mạng lưới kết nối xã hội của họ, Facebook có hai tính năng: "News Feed", xuất hiện trên trang chủ của mỗi người dùng và "Mini- Feed" xuất hiện trong hồ sơ cá nhân của mỗi cá nhân. "News Feed" cập nhật những câu chuyện thường xuyên được tạo ra bởi hoạt động của bạn bè đã kết nối với họ. Vì vay, mỗi khi người dùng đăng nhập, họ nhận được các thông tin cập nhật mới nhất về những người trong mạng lưới xã hội của họ. "Mini-Feed” cũng tương tự, ngoại trừ việc nó xoay quanh một cá nhân, cho thay những thay đổi gần đây trong hỗ sơ va những nội dung hoặc ứng dụng cá nhân đó đã sử dụng.
Như vậy, sử dụng Facebook có thé củng cô mối quan hệ hiện tại và cộng đồng bang cách giữ cho người sử dụng cập nhật liên tục về những gi đang xảy ra với các mối quan hệ của họ (Hargittai, 2007). Mặt khác, Facebook cho phép người dùng tạo và tham gia các nhóm dựa trên lợi ích chung, sở thích hoặc mối quan tâm giỗng nhau và hoạt động băng cách kết hợp các hỗ sơ của họ vào Facebook "Nhóm". Các "Nhóm" hién thị các thành viên trong nhóm. Vì vậy, những người thuộc về một nhóm có thể nhận được thông tin từ bạn bè và các thành viên trong nhóm.
Từ đó, họ có nhiều cơ hội để tham gia vào các hoạt động mới mẻ. Dong thời, tăng cường tham gia các nhóm trực tuyến và ngoại tuyến (offline) thường giúp xây dựng mối quan hệ tin cậy giữa các thành viên, tăng cường hơn nữa khả năng tăng von xã hội của Facebook (Kobayashi và cộng sự 2006).