Chương 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận. Nội dung và phương pháp nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Nghiên cứu ngoài nước Định nghĩa về DLST lần đầu tiên được Ceballos-Lascuráin [41] đưa ra: “DLST là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”. Theo định nghĩa này, DLST yêu cầu về trách nhiệm với môi trường, xã hội, tạo quỹ, hỗ trợ bảo tồn và cung cấp lợi ích cho cộng đồng địa phương [39], [78].
DLST đóng góp lợi ích cho cả kinh tế, xã hội và môi trường [86], [57], giúp tạo nguồn thu cho địa phương, đồng thời khuyến khích quản lý bảo tồn TNTN [57], [56], [79]. Một số tác giả khác nêu quan điểm du lịch dù dưới bất kỳ hình thức nào luôn đe dọa các khu vực phát triển [39], [85], hoặc doanh thu do du lịch tạo ra quá nhỏ để hỗ trợ việc bảo tồn [61]. Thu nhập từ DLST có thể làm thay đổi thái độ và hành vi của cư dân địa phương trong sử dụng không hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bao gồm khai thác tài nguyên quá mức, lấn chiếm đất,… [90]. Bên cạnh đó, DLST cũng được coi như một công cụ để quản lý rừng bền vững [89].
Từ cấp độ quốc gia và khu vực, DLST phát triển mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu. Đại hội đồng Liên Hợp Quốc chọn năm 2002 là “Năm Quốc tế DLST”. Tại hội nghị về DLST của Liên Hợp Quốc tại Quebec (Canada), các quốc gia đã ghi nhận giá trị quan trọng toàn cầu của DLST, những lợi ích cũng như các ảnh hưởng của DLST đối với vấn đề bảo vệ môi trường. Kết quả của Hội nghị này là Tuyên bố Quebec về DLST.
Năm 2007, Hội nghị DLST quốc tế tại Oslo (Na Uy) đã tổng kết những thành công, hạn chế cũng như thách thức của hoạt động DLST trên quy mô thế giới và đưa ra khuyến nghị về bốn lĩnh vực: phát triển bền vững, bảo tồn, giáo dục và truyền thông và những vấn đề nhạy cảm của DLST. Hưởng ứng lời kêu gọi của Liên Hợp Quốc về bảo vệ môi trường và phát triển du lịch bền vững, hơn 90 quốc gia thành viên của Tổ chức DLST thế giới đã tham gia vào Thỏa ước Oslo (gọi tắt là GEC07). Nhiều quốc gia như Mexico, Ecuado, Costa Rica, Úc, Malayxia,. đã xây dựng chiến lược và kế hoạch DLST quốc gia.
Một số quốc gia là Ecuado, Brazil, Venezuela, Úc, 7 Kenya, Estonia, Indonexia,. thành lập Hiệp hội DLST cấp quốc gia để hoạch định chính sách và kiểm soát hoạt động DLST trong nước, đồng thời là cầu nối chính thức với các tổ chức quốc tế có liên quan. DLST được khuyến khích phát triển vì mang lại lợi ích cho các bên liên quan. Những lợi ích tiềm năng do DLST mang lại bao gồm khả năng cung cấp các trải nghiệm du lịch quý giá; kích thích phát triển kinh tế quốc gia và địa phương [88], tạo ra lợi ích xã hội và cải tiến cơ sở hạ tầng [37], bồi dưỡng nhận thức, giá trị môi trường và hỗ trợ bảo tồn, giữa địa phương và du khách thông qua giáo dục tại chỗ [77], thúc đẩy bảo tồn văn hóa [81].
Kết quả nghiên cứu của Sirakaya và cộng sự dựa trên khảo sát 282 nhà khoa học cho thấy, DLST là một hình thức giáo dục, du lịch không ảnh hưởng đến vẻ đẹp TNTN [80], giúp cho du khách hiểu được văn hóa, xã hội, lịch sử của điểm đến. Nghiên cứu chỉ ra DLST góp phần duy trì ĐDSH và thường kết hợp với du lịch thân thiện với môi trường, có trách nhiệm, là du lịch giáo dục, du lịch ít tác động, du lịch văn hóa, du lịch bền vững, có ý thức với sự tham gia của cộng đồng. DLST làm (i) giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường; (ii) góp phần bảo vệ môi trường và bảo tồn TNTN; (iii) tạo quỹ cần thiết để bảo vệ bền vững các tài nguyên sinh thái và văn hóa - xã hội; (iv) tăng cường tương tác, hiểu biết giữa du khách và người dân địa phương; (v) đóng góp cho lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội của người dân địa phương. Do đó, DLST dựa trên bảo tồn bền vững các nguồn TNTN, không xâm lấn thông qua việc sử dụng có kiểm soát và quản lý tài nguyên văn hóa và môi trường cho tương lai.
DLST là sự kết hợp cùng tồn tại và tương tác của môi trường tự nhiên và con người; khuyến khích sự tích cực tham gia của du khách và người dân địa phương trong nỗ lực bảo tồn. Kết quả nghiên cứu do Drumm và Moore thực hiện chỉ ra rằng, DLST đem lại giá trị kinh tế cho các dịch vụ HST mà các khu vực được bảo tồn cung cấp; tạo ra nguồn thu nhập trực tiếp cho bảo tồn; tạo ra nguồn thu nhập trực tiếp, gián tiếp cho các bên liên quan tại địa phương: khuyến khích cho bảo tồn tại địa phương, cộng đồng, khuyến khích sử dụng bền vững TNTN và ngăn ngừa các mối đe dọa đối với ĐDSH [52]. Bên cạnh những lợi ích kể trên, phát triển du lịch có thể tác động tiêu cực đến môi trường. Rủi ro thường xảy ra khi khai thác TNTN phục vụ du khách ngày càng nhiều nhưng quản lý không chặt chẽ.
Kết quả nghiên cứu của MacKinnon đã 8 chỉ ra những tác động tiêu cực đến môi trường do phát triển du lịch tại các VQG, bao gồm: tình trạng quá tải của du khách dẫn đến căng thẳng môi trường; thay đổi hành vi của động vật; làm hỏng đường mòn và đường bờ biển; làm gia tăng lượng ô nhiễm, tiếng ồn, xả rác hoặc khai thác tài nguyên; gây hư hại các địa điểm tự nhiên và văn hóa của các điểm đến du lịch [68]. Một số nhà quản lý, như người ra quyết định quan tâm đến lợi ích kinh tế hơn lợi ích bảo tồn của VQG. Khi DLST được coi là cơ chế chính để cung cấp cho VQG lợi ích kinh tế, VQG phải được quản lý chặt chẽ và các biện pháp bảo vệ phải được thực hiện để ngăn chặn những hành động gây hại tới môi trường cũng như TNTN của du khách. Nghiên cứu của Prato cũng chỉ ra rằng, VQG đang phải chịu những tác động lớn từ du khách [75].
Chính sách của VQG là khuyến khích các nhà quản lý sử dụng pháp luật và các quy định để bảo vệ TNTN và giá trị của VQG khỏi mối đe dọa. Kết quả nghiên cứu của Berke, Peterman và các cộng sự cho thấy, các HST trong VQG đang phải đối mặt với các thách thức vì người quản lý VQG không thể xác định chính xác trạng thái HST và dự đoán kết quả hành động quản lý do những thay đổi trong xã hội, nhân khẩu học, sinh thái và kinh tế [35], [74]. Các nhà quản lý VQG áp dụng một số giải pháp quản lý, bao gồm: tăng tỷ lệ các nhà quản lý VQG có kiến thức về sinh thái học; tăng cường thông tin được chia sẻ giữa các nhà hoạch định chính sách; tạo cơ chế chia sẻ giữa các nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý [70]. Một nghiên cứu của Baloglu và Mangaloglu cho thấy, hiện tượng tập trung du khách tại một điểm đến có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.
Phát triển du lịch đồng nghĩa với việc làm gia tăng lượng du khách tới điểm tham quan, tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ và gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên. Để phát triển bền vững phải lồng ghép các yêu cầu và giải pháp bảo vệ môi trường ngay từ khâu lập quy hoạch, đồng thời chú trọng xây dựng các chiến lược phát triển lâu dài [32]. Những kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, mặc dù có một số mâu thuẫn nảy sinh giữa DLST và bảo tồn trong quá trình quản lý, tuy nhiên đánh giá tổng thể, DLST đóng góp tích cực vào công tác bảo tồn ĐDSH tại các khu RĐD, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển. Nghiên cứu của Das và Hussain tại VQG Kaziranga, Ấn Độ cho thấy DLST là một chiến lược bảo tồn dựa trên thị trường 9 nhằm tăng cường kinh tế hộ gia đình và cải thiện thái độ của người dân đối với bảo tồn.
DLST tạo ra phúc lợi kinh tế bằng ảnh hưởng tích cực đến các thành phần chi tiêu khác nhau trong ngân sách của một hộ gia đình [51]. Nghiên cứu của Ishmael tại VQG Kakum ở Ghana cho thấy, DLST dựa vào cộng đồng được coi là một mô hình khả thi để đạt được mục tiêu bảo tồn và cải thiện sinh kế cho các cộng đồng cư dân địa phương. Tại khu vực này, mặc dù các cộng đồng đã đạt được một số thành tựu kinh tế khiêm tốn, đặc biệt là trong phát triển cơ sở hạ tầng, tuy nhiên vẫn phải đối mặt với một số thách thức, bao gồm hạn chế sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động DLST, hạn chế về việc làm, thiếu cơ hội chia sẻ doanh thu và thiếu năng lực quản lý của địa phương [62]. Gần đây nhất, kết quả nghiên cứu của Aseres và Sira tại VQG Dãy núi Bale ở Ethiopia cho thấy, phát triển DLST và bảo tồn hỗ trợ tích cực nhau trong quá trình quản lý.
Một số xung đột nảy sinh giữa hai hoạt động này xuất phát từ trình độ học vấn và nhận thức thấp của cộng đồng, không đảm bảo sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch, bất cân bằng trong phân bổ lợi ích và chi phí, không đảm bảo cơ chế tài chính bền vững và tăng cường các áp lực môi trường khác liên quan đến gia tăng dân số [31]. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ những xung đột xảy ra và sự cộng sinh bền vững giữa DLST và bảo tồn, từ đó đề xuất các giải pháp can thiệp chính sách khẩn cấp, đặc biệt là để tích hợp các nguyên tắc và thực hành của DLST trong công tác bảo tồn hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Với mục đích đánh giá tác động của DLST, một số lý thuyết khoa học đã được phát triển và một số mô hình định lượng được áp dụng: lý thuyết hệ thống du lịch và tổ chức lãnh thổ du lịch (Lê Huy Bá, 2006; Phạm Trung Lương, 1998, 2004; Buckley, 2009), lý thuyết về hình ảnh điểm đến (Echtner và Ritchie, 2003; Tasci và Gartner, 2007), lý thuyết về lòng trung thành của du khách (Chen và Gursoy, 2001; Moliner, 2009).