đặt vấn đề so sánh Đại suy thoái 1929 và Khủng hoảng 2008 để tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt trong bối cảnh, nguyên nhân, diễn biến và tác động của hai cuộc khủng hoảng này. Đồng thời tác giả cũng đưa ra một số nhận định về quan hệ quốc tế trong thời gian tới dưới sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng 2008. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng I: Diễn biến và nguyên nhân của Đại suy thoái kinh tế 1929 – 1933 Nền kinh tế thế giới cũng có chu kỳ nhất định, theo lý thuyết kinh học trước đây, nó thường được chia là bốn pha: suy thoái, khủng hoảng, phục hồi và hưng thịnh. Thế giới đã trải qua rất nhiều cuộc suy thoái kinh tế khác nhau kể từ khi xuất hiện thương mại quốc tế.
Khi mối quan hệ giữa các quốc gia càng gia tăng thì sự suy thoái kinh tế của một quốc gia hay một khu vực rất dễ dàng phát triển thành suy thoái kinh tế khu vực và rộng hơn thế giới. Theo một nghiên cứu, trong thời kỳ từ 1854 – 1945, thời kỳ phát triển trung bình kéo dài 29 tháng và thời kỳ suy thoái kéo dài 21 tháng. Tuy nhiên, kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2, thời kỳ phát triển đã kéo dài gấp đôi trước kia, lên mức trung bình 50 tháng, và thời kỳ suy thoái kéo dài giảm xuống chỉ còn 11 tháng. Đại suy thoái kinh tế 1929 – 1933 diễn ra hơn 10 năm sau khi Chiến tranh thế giới kết thúc, khi nền kinh tế các quốc gia vừa trải qua một thời kỳ phục hồi sau chiến tranh và nước Mỹ đang đạt đến thời kỳ hưng thịnh nhất.
Đại suy thoái là một đòn mạnh vào nền kinh tế nước Mỹ nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung, làm biến đổi bộ mặt nền kinh tế nhiều nước cũng như mối quan hệ giữa các quốc gia và hệ thống thế giới.1 Diễn biến của cuộc Đại suy thoái 1.1 Đại suy thoái bắt đầu ở Mỹ Nền kinh tế thế giới dường như đã được hồi phục sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Các nước đã dần hồi phục lại nền kinh tế, tuy sự tăng trưởng ở các quốc gia là không đồng đều. Cả ngoại thương và sản xuất công nghiệp đều tăng 20% vào năm 1929 so với năm 1925 [3, tr 37]; ngay cả Liên Xô – nơi nền kinh tế bị gián đoạn liên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tục kể từ sau năm 1917, với những nổ lực của các nhà lãnh đạo, tình trạng nền kinh tế cũng được cải thiện nhiều đặc biệt được đánh dấu với ké hoạch 5 năm lần đầu tiên kể từ năm 1929. Sau chiến tranh, hầu hết các quốc gia – trừ Mỹ và Anh – đều phải trải qua nạn lạm phát.
Ở Đức diễn ra tình trạng “siêu lạm phát”, các nước như Pháp, Ý, những nước Trung và Đông Âu cũng bị ảnh hưởng ít nhiều, nhưng sau đó với sự hỗ trợ của các tổ chức kinh tế và những chính sách phát triển thích hợp, Pháp, Anh và đặc biệt là Đức đã lấy lại được sự tăng trưởng của mình và trở nên thịnh vượng. Một số nhà chính trị và thời điểm bấy giờ đã lên tiếng dự đoán và cảnh báo về sự sụp đổ sắp đến nhưng hầu hết đều bị bỏ qua. Và sự sụp đổ đã thật sự diễn ra, không lâu sau khi những suy đoán và cảnh báo đã được đưa ra và được cho là cuộc Đại suy thoái lớn nhất trong lịch sử. Thời điểm đã được lưu giữ trong lịch sử như là sự bắt đầu cho chuỗi những năm suy thoái đó chính là tại thị trường chứng khoán phố Wall, tháng 10 năm 1929 vào ngày “thứ năm đen tối” ngày 24 tháng 10 và “ngày thứ ba đen tối” ngày 29 tháng 10 năm 1929.
Mùng 3 tháng 9 năm 1929, chỉ số Dow Jones đạt đỉnh cao nhất 381,2. Vào cuối phiên thứ 5 ngày 24 tháng 10, thị trường giảm 21% so với mức cao nhất còn 299,5 điểm. Vào hôm đó, thị trường giảm 33 điểm – mức giảm 9%, tương đương lớn gấp 3 lần so với mức trung bình hàng ngày trong 9 tháng đầu năm. Trên thị trường đã diễn ra hiện tượng hoảng loạn bán cổ phiếu.
Vào ngày 13 tháng 11 năm 1929, thị trường giảm còn 199 điểm. Vào thời gian mà cuộc suy thoái đã chấm dứt vào năm 1932, theo một tính toán thì thị trường chứng khoán đã mất 90% giá trị của nó. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Diễn biến chỉ số Dow Jones từ 1928 đến 1934 Nguồn: Bài học từ sự sụp đổ của phố Wall thời Đại suy thoái http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/quoc-te/2008/10/3ba075b5/ Sự của sụp đổ của thị trường chứng khoán và hậu quả của nó như là điểm bùng nổ đầu tiên đối với nền kinh tế Mỹ vốn đã không ổn định từ lâu. Nền kinh tế vào những năm 1920 phụ thuộc chủ yếu vào niềm tin, nhưng sự đổ vỡ của thị trường đã làm xói mòn niềm tin này.
Người giàu dừng việc tiêu dùng vào những đồ dùng xa xỉ, và đầu tư ít hơn, tầng lớp trung lưu và người nghèo cũng dừng việc mua hàng trả sau do sợ mất việc, và không có khả năng trả lãi. Và kết quả là sản xuất công nghiệp giảm 9% từ khi thị trường sụp đổ vào tháng 10 tới tháng 12 năm 1929; hàng nghìn người mất việc, nhiều người vỡ nợ; ô tô và radio mua trả sau bị gửi trả lại, kho hàng chất đống và nền kinh tế liên hệ mật thiết với sự thịnh vượng của hai ngành sản xuất vào thời điểm này dần tan vỡ. Không có ô tô, người Mỹ không dùng xăng và lốp, không có đài người Mỹ dùng ít điện hơn. Về mặt quốc tế, người giàu dừng việc cho nước ngoài vay tiền.
Với những khoản lợi lớn kiếm được từ thị trường chứng khoán trước đó, không ai muốn cho vay lãi suất thấp. Để bảo vệ kinh doanh của quốc gia, Mỹ ban hành hàng rào thuế cao hơn (Thuế quan Smooth - Hawley năm 1930); người nước ngoài dừng việc tiêu dùng hàng hóa Mỹ; lượng công việc lại giảm, nhiều cửa hàng phải đóng cửa, nhiều ngân hàng phá sản và nhiều nhà máy đóng cửa; người thất nghiệp tăng lên 5 triệu người năm 1930 và 13 triệu người năm 1932. Nước Mỹ rơi vào thời kỳ khủng hoảng trầm trọng. Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929 không hoàn toàn gây ra cuộc Đại suy thoái, nhưng nó cũng bắt đầu một chuỗi các sự kiện và bộc lộ sự yếu kém tồn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tại từ lâu trong nền kinh tế Mỹ.
Trong vòng 3 năm tiếp theo, cuộc suy thoái ngày càng trở nên trầm trọng. Sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng tiếp nối theo sự sụp đổ của thị trường chứng khoán. Ngân hàng lớn đầu tiên sụp đổ sau khủng hoảng năm 1929 bắt đầu với một chi nhánh nhỏ được xây dựng năm 1921 ở góc tây nam của phố Freeman và đại lộ phía Nam ở nhánh Morrisania của Bronx. Nó không chỉ là một sự kiện nhỏ mà chính là một mốc đánh dấu sự suy sụp của ngành tài chính Mỹ trong lịch sử.
Bắt đầu từ thời điểm đó, các ngân hàng của Mỹ nối tiếp nhau đóng cửa liên tục, gây hoang mang lo sợ cho người dân cũng như làm đảo lộn thị trường tài chính. Xem xét biểu đồ dưới đây về số lượng ngân hàng từ năm 1926 tới năm 1940, ta có thể nhận thấy số lượng lớn ngân hàng trong những năm trước khi diễn ra đại suy thoái nhưng đã nhanh chóng bị giảm mạnh trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế.2 Biểu đồ số lượng ngân hàng ở Mỹ trước và trong thời gian Đại suy thoái từ 1926 tới 1940 Nguồn: The Great Depression accelerated the growth of macroeconomics as a distinct field in economics.com/challenges/great_depression.htm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Biểu đồ số ngân hàng đóng cửa tạm thời và vĩnh viễn từ 01/1929 - 03/1933 Nguồn: G.Richardson (2007), The Collapse of the United States Banking System during the Great Depression, 1929 to 1933, trang 44 Biểu đồ trên chỉ ra số lượng ngân hàng tạm thời hay vĩnh viễn đóng cửa từ tháng 1 năm 1929 cho tới tháng 3 năm 1933. Tỷ lệ của cả hai đường duy trì ở mức thấp, cho tới tháng 11 năm 1930 thì tỷ lệ đã tăng lên ở mức chưa từng thấy. Các ngân hàng đóng cửa tạm thời tăng lên đáng kể, số ngân hàng đóng cửa tạm thời tập trung vào một số tuần, số tuần còn lại thì không có.
Hầu hết những ngân hàng đóng cửa tạm thời vào thời gian khi làn sóng ngân hàng sụp đổ so khủng hoảng vào mùa thu năm 1930. Số lượng này giảm bớt trong thời gian xảy ra khủng hoảng. Dưới 20% số ngân hàng đóng cửa trong mùa thu năm 1931 và sau đó đã mở cửa trở lại. Biểu đồ trên chỉ ra số lượng ngân hàng tạm thời hay vĩnh viễn đóng cửa từ tháng 1 năm 1929 cho tới tháng 3 năm 1933.
Tỷ lệ của cả hai đường duy trì ở mức trước thấp, cho tới tháng 11 năm 1930 thì tỷ lệ đã tăng lên ở mức chưa từng thấy. Các ngân hàng đóng cửa tạm thời tăng lên đáng kể, số ngân hàng đóng cửa tạm thời tập trung vào một số tuần, số tuần còn lại thì không có. Hầu hết những ngân hàng đóng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cửa tạm thời vào thời gian khi làn sóng ngân hàng sụp đổ so khủng hoảng vào mùa thu năm 1930. Số lượng này giảm bớt trong thời gian xảy ra khủng hoảng.
Dưới 20% số ngân hàng đóng cửa trong mùa thu năm 1931 và sau đó đã mở cửa trở lại. Năm 1929, ở Mỹ có 659 ngân hàng giữ khoảng 200 triệu USD, không còn hoạt động. Năm sau, số ngân hàng đóng cửa tăng lên gấp đôi và năm sau nữa lại thêm gấp đôi số lượng. Người gửi tiền mất 2,5 tỷ USD.
Cũng do sự đóng cửa của các ngân hàng, nguồn cung tiền của Mỹ cũng sụt giảm nghiêm trọng. Theo một số tính toán, tổng nguồn cung tiền giảm 1/3 từ năm 1930 đến 1933. Điều này cũng đồng nghĩa với sự suy giảm mua bán trao đổi và dẫn tới sự giảm phát. Các nhà máy và người buôn bán bắt đầu giảm giá, giảm sản xuất và giảm bớt nhân công.
Một số nhà kinh tế cho rằng suy thoái có thể tránh được nếu như hệ thống dự trữ liên bang có những hành động kịp thời hơn. Nhưng những thành viên của Hội đồng dự trữ liên bang quan tâm tới việc bảo vệ khả năng thanh toán trong tình trạng nền kinh tế nhiều rủi ro, họ tăng lãi suất vào năm 1931, tập trung nhiều hơn vào nguồn cung tiền. Vào thời điểm đó, sư sụp đổ diễn ra rất nhanh và phá hủy lớn. GDP của Mỹ giảm 25% trong vòng 3 năm từ 1929 tới 1933.