chương 1, tác giả đưa ra cái nhìn khái quát chung cho bài nghiên cứu, nêu lý do chọn đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Từ đó tác giả xác định mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và các phương pháp tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu. Tác giả cũng đưa ra kết cấu chung của bài nghiên cứu để đọc giả dễ dàng hình dung được kết cấu và ý tưởng của đề tài. 123doc 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Lý thuyết về đa dạng hóa trong kinh doanh ngân hàng 2. Lý thuyết về đa dạng hóa Đa dạng hóa là một chiến lược đầu tư được thiết kế nhằm giảm bớt rủi ro bằng cách kết hợp một loạt các khoản đầu tư khác nhau. Việc kết hợp này tạo ra một danh mục đầu tư theo nhiều hướng và không có khả năng tất cả các khoản đầu tư di chuyển theo cùng một hướng (Sanya & Wolfe 2011). Mục tiêu đa dạng hóa trong lý thuyết danh mục đầu tư là giảm rủi ro trong danh mục đầu tư.
(1957): “thuật ngữ đa dạng hóa thường được gắn liền với sự thay đổi những đặc điểm dòng sản phẩm của công ty hoặc thị trường, trái ngược với sự thâm nhập thị trường, phát triển thị trường hay phát triển sản phẩm, nó đại diện cho sự thay đổi trong cơ cấu sản phẩm”. Đối với doanh nghiệp, đa dạng hóa là việc một công ty mở rộng hoạt động kinh doanh cốt lõi của mình vào thị trường sản phẩm khác. Các doanh nghiệp đa dạng hóa khi họ mong muốn kinh doanh đồng thời từ hai lĩnh vực khác nhau trở lên. Trong ngành ngân hàng, đa dạng hóa xảy ra khi các ngân hàng không còn tập trung vào mảng kinh doanh cốt lõi là cho vay mà mở rộng thị phần vào các sản phẩm dịch vụ khác hoặc lĩnh vực kinh doanh khác như bảo hiểm, bất động sản, chứng khoán….
Theo Rose & Hudgins (2006), hoạt động đa dạng hóa thu nhập ngân hàng được giải thích thông qua sự thay đổi giữa thu nhập ngoài lãi và thu nhập từ lãi và bằng sự thay đổi nội tại của hai loại thu nhập được phân tích. Nếu như nguồn thu nhập của ngân hàng có được chỉ duy nhất từ thu nhập lãi ròng thì được gọi là tập trung, nhưng nếu nguồn thu này có được phân chia giữa thu nhập ngoài lãi và thu nhập từ lãi thì được gọi là đa dạng hóa. Hoạt động đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực kinh doanh thương mại và các hoạt động tạo phí và hoa hồng. Với việc đa dạng hóa thu nhập, ngân hàng không còn tập trung vào các lĩnh vực truyền thống mà 123doc 8 dần chuyển dịch sang kinh doanh buôn bán khác, tạo thêm nguồn thu nhập cho ngân hàng.
Các tài liệu về đa dạng hóa ngân hàng phân tích lợi ích và hạn chế liên quan đến chiến lược phát triển theo các loại hình đa dạng hóa. Đa dạng hóa có thể dẫn đến sự gia tăng hiệu suất thông qua tiết kiệm chi phí hoặc doanh thu được cải tiến do sự thuận lợi khi kết hợp các dịch vụ tài chính (Llewellyn, 1996; Teece, 1980). Hoặc, đa dạng hóa có thể làm hiệu quả hoạt động của các ngân hàng giảm sút, gia tăng rủi ro tín dụng khi gặp một số vấn đề về quy mô hay sự quản lý… (De Young và Roland, 2001; Lepetit và cộng sự, 2008; Stiroh, 2004). Đa dạng hóa xuất phát từ nhiều nguyên nhân, theo Lepetit và cộng sự, (2008) tình trạng này bắt nguồn từ sự cải cách tài chính thập niên 70, 80 ở Châu Âu, hệ thống ngân hàng phương Tây phải đối mặt với những thay đổi lớn trong các hình thức cạnh tranh, tập trung và tái cơ cấu.
Họ đã phản ứng với môi trường mới bằng các áp dụng một chiến lược mở rộng phạm vi các sản phẩm cung cấp cho khách hàng. Sự thay đổi trong cơ cấu thu nhập mà trong đó tỷ lệ thu nhập ngoài lãi ngày càng cao là bằng chứng cho thấy sự chuyển dịch hoạt động của các ngân hàng. Theo các nghiên cứu tại ngân hàng nước ngoài, thu nhập ngoài lãi đóng góp 41% tổng thu nhập tại thị trường Châu Âu trong năm 1998 (ECB, 2000), tỷ lệ này là 43% tại Mỹ vào năm 2011 (Stiroh, 2004). Piyadasa và cộng sự (2015) nghiên cứu từ sự bãi bỏ quy định trong ngành công nghiệp tài chính tại Úc đã khuyến khích các ngân hàng thương mại đa dạng hóa hơn là tập trung vào các quỹ cho vay truyền thống.
Với một loạt các chức năng mới được tạo ra, các ngân hàng Úc đã phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những nước có ngành ngân hàng đạt lợi nhuận cao nhất trên thế giới. Mặt khác, để đáp ứng xu hướng phát triển cạnh tranh do toàn cầu hóa, tự do hóa và tư nhân hóa, các ngân hàng thương mại đã không ngừng mạo hiểm vào các lĩnh vực ngoài truyền thống. Chính sự cạnh tranh đã tạo điều kiện cho họ nhìn thấy nhiều hướng kinh doanh mới, mạnh dạn hơn trong việc mở rộng các hoạt động trung gian truyền thống như huy động vốn, cho vay sang các hoạt động có thu nhập ngoài lãi. 123doc 9 Hoạt động đa dạng hóa của ngân hàng ở phạm vi rất rộng lớn do đó trong bài tác giả giới hạn lại phạm vi nghiên cứu trong hoạt động đa dạng hóa danh mục thu nhập (tác giả gọi tắt là đa dạng hóa thu nhập) và đa dạng hóa danh mục đầu tư ( tác giả gọi tắt là đa dạng hóa tài sản).Tác giả chọn đa dạng hóa thu nhập và đa dạng hóa tài sản là vì đây là hai lĩnh vực kinh doanh chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam hiện nay.
Đa dạng hóa tài sản Các mô hình lý thuyết đa dạng hóa danh mục đầu tư được phát triển bởi Markowitz và Jame. Quy tắc quy chuẩn cho việc đa dạng hóa làm giảm thiểu rủi ro danh mục được áp dụng cho tài sản hay danh mục đầu tư có rủi ro. Đa dạng hóa danh mục đầu tư có thể mang lại lợi nhuận cho danh mục đầu tư nhưng mức độ đa dạng hóa có thể làm giảm rủi ro thì phụ thuộc vào sự tương quan giữa các khoản đầu tư trong danh mục. Nếu lợi nhuận các khoản đầu tư không tương quan cùng chiều khi rủi ro xảy ra thì đa dạng hóa danh mục có thể loại bỏ rủi ro hoặc giảm rủi ro danh mục.
Đa dạng hóa tài sản bao gồm các hoạt động như: hoạt động kinh doanh ngoại hối, mua bán chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu từ, góp vốn mua cổ phần Đa dạng hóa thu nhập Đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng được thể hiện qua sự thay đổi tỉ lệ của thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập của ngân hàng. Sự thay đổi này có được khi ngân hàng chủ động gia tăng các nguồn thu nhập ngoài lãi (thu từ phí dịch vụ, hoa hồng và thu nhập hoạt động đầu tư khác). Chiến lược có tỉ trọng thu nhập từ lãi cao trong tổng thu nhập của ngân hàng gọi là chiến lược tập trung nguồn thu nhập, ngược lại chiến lược có thu nhập được đóng góp từ thu nhập ngoài lãi và thu nhập lãi gọi là chiến lược đa dạng hóa thu nhập. Hoạt động đa dạng hóa thu nhập ngân hàng là hoạt động chuyển từ mảng kinh doanh truyền thống (hoạt động tín dụng) sang mảng kinh doanh phi truyền thống (phí dịch vụ, hoa hồng, hoạt động kinh doanh khác) theo Rose & Hudgins (2008).
Đa dạng hóa thu nhập là gia tăng nguồn thu nhập ngoài lãi. Để gia 123doc 10 tăng nguồn thu nhập ngoài lãi thì ngân hàng phát triển nhiều sản phẩm dịch vụ phi tín dụng. Như vậy đa dạng hóa thu nhập ngân hàng có thể thực hiện nhiều phương pháp sau: Cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ phi tín dụng nhằm đáp ứng như cầu về tài chính tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp mang lại lợi nhuận từ hoạt động dịch vụ. Phát triển dịch vụ phi tín dụng là cung cấp nhiều dịch vụ phi tín dụng và đồng thời mở rộng thị phần, đối tượng khách hàng.
Bên cạnh đó kết hợp kinh doanh với sản phẩm dịch vụ tín dụng truyền thống. Đo lường đa dạng hóa Chỉ số Herfindahl-Hirschman là chỉ số đo lường mức độ tập trung thị trường và là một chỉ số về mức độ cạnh tranh trong một ngành cụ thể. Một ngành tập trung cao độ là một ngành chỉ có một vài người chơi trong ngành chiếm tỷ lệ lớn trong thị phần, dẫn đến tình trạng gần như độc quyền. Mức độ tập trung thấp có nghĩa là ngành công nghiệp đang tiến gần đến một kịch bản cạnh tranh hoàn hảo, nơi nhiều công ty có quy mô khác nhau cùng nhau chia sẻ thị trường.
Để tính Chỉ số Herfindahl-Hirschman, ta lấy phần trăm thị phần của mỗi công ty trong một ngành, bình phương số đó, sau đó cộng tất cả lại với nhau. Chỉ số này cũng được sử dụng trong ngành ngân hàng để đo lường mức độ tập trung của một ngân hàng trong một lĩnh vực nào đó (ví dụ như: đa dạng hóa thu nhập, đa dạng hóa tài sản, đa dạng hóa địa lý…). Cách tính cũng tương tự như cách tính chung của chỉ số này: HHI = S12 + S22 + S32 + … +Sn2 Trong đó S1, S2, S3,… Sn là phần trăm của các thành phần trong 1 lĩnh vực mà cần đo lường. HHI càng cao thì mức độ tập trung càng cao tức đa dạng hóa thấp và ngược lại HHI càng thấp thì mức độ tập trung càng thấp và đa dạng hóa cao.
Lý thuyết về rủi ro trong hoạt động ngân hàng 2. Khái niệm 123doc 11 Rủi ro là những biến cố không mong đợi, khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc ngân hàng phải bỏ ra thêm một khoản chi phí nào đó để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Rủi ro như là sự khác biệt giữa giá trị thực tế nhận được và giá trị đã kỳ vọng. Vì vậy mỗi doanh nghiệp hay ngân hàng khi kinh doanh thì gặp rủi ro là điều không thể tránh khỏi, phải chấp nhận rủi ro và quản trị tốt rủi ro tạo nguồn thu nhập lớn hơn cho ngân hàng.
Các loại rủi ro trong hoạt đông ngân hàng 2. Rủi ro tín dụng Trong hoạt động ngân hàng, tín dụng là hoạt động đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn.