Chương 1: Giới thiệu (lí do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu). Chương 2: Tổng quan lý thuyết (trình bày những cơ sở lý thuyết trước đây liên quan đến các biến của bài nghiên cứu) Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả thực nghiệm (và giải thích kết quả thực nghiệm) Chương 5: Kết luận. 123doc 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Các lý thuyết từ trước tới nay đã tìm ra các cơ chế quản lý khác nhau để làm giảm đi chi phí đại diện nhưng cho đến nay, việc quản lý thông qua các quyết định về cấu trúc vốn và cấu trúc sở hữu được xem là có ảnh hưởng nhiều hơn, vì các khoản nợ khiến cho các nhà quản trị không hành động đi ngược lại các chủ nợ.
Các tổ chức tài chính cho phép vay nợ chỉ khi họ có thể giám sát hoạt động của công ty và thỏa mãn với tầm nhìn và hành động của nhà quản trị. Các lý thuyết về chi phí đại diện và quyền sở hữu của nhà quản trị Nghiên cứu của Kole (1995) cho rằng quyền sở hữu của nhà quản trị có thể ảnh hưởng lên các công ty lớn và nhỏ theo các giá trị khác nhau. Nghiên cứu của Lasfer (2002) cho rằng vai trò giám sát của cổ đông lớn (nắm giữ phần nhiều cổ phiếu) và trái chủ không có hiệu quả. Lasfer kết luận rằng chỉ các cty có tăng trưởng thấp mới có thể có lợi ích bằng quyền sở hữu của nhà quản trị và cấu trúc ban quản trị trong việc kiểm soát vấn đề đại diện.
Jung and Kwon (2002) quản lý các công ty Hàn Quốc và thấy rằng cổ đông lớn có động cơ để quản lý việc giám sát một cách chủ động. Nhưng trong trường hợp của Hàn Quốc thì các cổ đông lớn không phải là chuyên gia trong việc giám sát, và họ đã thất bại trong việc thiết lập chiến lược phù hợp việc quản trị. Kusnadi (2003) tìm ra hai yếu tố chính quyết định việc nắm giữ tiền mặt là quy mô ban quản trị và quyền sở hữu của cổ đông lớn không nắm quyền quản lý, và thấy rằng quyền sở hữu của cổ đông lớn không quản lý mà nhỏ thì công ty đối mặt với việc quản lý không chặt chẽ và vấn đề đại diện của nợ rất xấu. Nghiên cứu của Byrd (2010) không tìm thấy bằng chứng về việc quyền sở của nhà quản trị hay sự độc lập của ban quản trị có thể làm giảm đi mâu thuẫn đại diện.
123doc 6 Mustapha and Ahmad (2011) thấy rằng quyền sở hữu của nhà quản trị trong một tổ chức càng lớn thì tổng chi phí giám sát càng thấp. Nghiên cứu này cũng ủng hộ quan điểm quyền sở hữu của nhà quản trị dẫn đến hội tụ lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà quản lý. Điều này có nghĩa là một sự gia tăng trong phần quyền sở hữu bên trong được mong đợi sẽ dẫn đến sự gia tăng giá trị của công ty vì lợi ích của cổ đông bên trong và bên ngoài lúc này hội tụ, vì vậy sẽ ít có sự bất cân xứng thông tin hơn. Trước đó, giả thuyết “hội tụ lợi ích” của Jensen (1993) cũng đã đề xuất rằng việc nắm giữ cổ phần của nhà quản trị có thể làm cho lợi ích của cổ đông và nhà quản trị hội tụ, vì khi phần sở hữu của nhà quản trị gia tăng, thì hoạt động công ty cũng gia tăng.
Ngược lại, Morck et al (1988) lại tranh luận rằng mức độ sở hữu của nhà quản trị càng cao thì có thể dẫn đến sự “bảo thủ”, vì các cổ đông bên ngoài không thể đồng ý theo hoạt động của các nhà quản trị. Các lý thuyết về chi phí đại diện và và quyền sở hữu tập trung Fan and Wong (2002) phát biểu trong nghiên cứu của mình, cho rằng quyền sở hữu tập trung tạo ra mâu thuẫn trung gian giữa chủ sở hữu quản lý và nhà đầu từ bên ngoài. Doukas and Pantzalis (2003) định nghĩa chi phí đại diện của nợ là mâu thuẫn giữa cổ đông và trái chủ. Họ thấy rằng các công ty đa quốc gia (MNCs) có điểm yếu là có chi phí đại diện của nợ cao hơn so với các công ty nội địa vì sự đa dạng về địa lý dẫn đến khó khăn trong việc chủ động giám sát, và chi phí giám sát đắt đỏ hơn các công ty nội địa.
Nghiên cứu của Singh and Davidson (2003) đưa ra bằng chứng yếu về việc quyền sở hữu tập trung cao hơn có thể làm giảm chi phí đại diện trong khi Anderson and Reeb (2003) lại chỉ ra rằng các cty gia đình có thể có chi phí đại diện thấp hơn nhờ có cấu trúc sở hữu vốn tập trung. Ehsan (2012) nhận thấy rằng ở Pakistan, cổ đông bên trong công ty không chỉ chiếm hữu chặt chẽ các quỹ mà còn chiếm hữu cả các quyền tối thiểu không được bảo vệ tốt theo luật công ty, và vì những lí do này mà các cổ đông bên trong 123doc 7 bằng sự tập trung nắm giữ cổ phiếu có khả năng lạm dụng quyền của mình cho lợi ích cá nhân. Pakistan là một nền kinh tế mới nổi, mà ở các nền kinh tế này thì các quyền lợi thiểu số không được luật công ty bảo vệ tốt, vì vậy nên các cổ đông nắm quyền nhiều hơn có khả năng lạm quyền để thu lợi ích cá nhân. Chi phí đại diện và nợ ngân hàng Grosseman and Hart (1982) là những người đầu tiên đưa ra tranh luận rằng các nhà quản trị có thể tích cực sử dụng nợ hơn là vốn cổ phần.
Tương tự, thuyết dòng tiền tự do của Jensen (1986) xem nợ như một lợi lích gia tăng vì công ty nỗ lực cải thiện năng suất của tài sản và kết quả là nợ cần phải tăng. Nợ không chỉ làm giảm dòng tiền tự do mà còn khiến các nhà quản trị hoạt động hiệu quả thông qua thị trường nợ. Jensen (1986) phát biểu trong nghiên cứu của mình rằng các tổ chức phải thường xuyên tìm vốn trên thị trường tài chính. Vào lúc này thị trường có cơ hội đánh giá công ty, đánh giá sự quản lý và các dự án được đưa ra của công ty.
Các giám đốc ngân hàng và các nhà phân tích đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát này, và đánh giá của thị trường thể hiện rõ ràng trong giá mà các nhà đầu tư trả cho quyền lợi tài chính. Lý thuyết dòng tiền tự do của Jensen (1986) xem xét rằng nợ có thể làm giảm đi vấn đề đại diện giữa cổ đông và nhà quản trị của công ty và thúc đẩy nhà quản trị điều hành hoạt động theo lợi ích của cổ đông. Nợ có thể làm giảm chi phí đại diện, nhưng nợ quá nhiều có thể dẫn đến rủi ro vì nó gia tăng khả năng phá sản. Shleifer and Vishny (1997) cung cấp khảo sát mở rộng về vai trò của nợ trong việc giảm đi mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản trị và cổ đông.
Trong nghiên cứu của mình, Ferreira (2004) thấy là việc nắm giữ tiền mặt chịu tác động cùng chiều với đòn bẩy. Giữa nợ ngân hàng và việc nắm giữ tiền mặt lại tìm thấy mối quan hệ ngược chiều. Mối quan hệ ngược chiều này củng cố rằng mối quan hệ thân thiết với ngân hàng sẽ cho phép công ty ít nắm giữ tiền mặt hơn, vì lí do phòng ngừa. Trước đó, Ang et.
al (2000) cũng thấy rằng chi phí đại diện 123doc 8 giảm đi khi công ty phụ thuộc vào việc giám sát nhiều hơn từ phía ngân hàng. Họ tranh luận rằng ngân hàng thông thường là yêu cầu nhà quản lý của công ty báo cáo trung thực kết quả họat động và việc điều hành công ty có hiệu quả, có lợi nhuận, việc giám sát của ngân hàng bổ sung cho việc giám sát của cổ đông với nhà quản lý, gián tiếp giảm đi chi phí đại diện. Đó là vì bằng cách gánh chịu chi phí để bảo vệ cho khoản vay của mình thì ngân hàng đã đưa công ty đến hoạt động hiệu quả hơn bằng việc tận dụng tài sản tốt hơn và làm giảm đi những tiêu dùng đặc quyền để cải thiện hoạt động tài chính báo cáo cho ngân hàng. Vì vậy, những người có quyền ưu tiên thấp hơn, như cổ đông bên ngoài, nên nhận thấy rằng những cái bên ngoài như sự giám sát của ngân hàng là sự tích cực, làm cho chi phí đại diện thấp hơn.
Thêm vào đó, các giám đốc ngân hàng địa phương có khả năng nắm bắt được những thông tin liên quan đến công ty thông qua tương tác với khách hàng của công ty và nhà cung ứng, những khả năng thuận lợi này giúp họ thành những nhà giám sát đặc biệt giỏi. al (2005) kiểm tra giả thuyết sự tách biệt quyền sở hữu và quản lý tạo ra chi phí đại diện trên mẫu là các công ty vừa và nhỏ của Úc. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ số nợ trên tài sản, ủy quyền cho ngân hàng giám sát,và chi phí đại diện không cho ra kết quả rõ ràng. Nghiên cứu của Florackis (2008) kiểm tra xem liệu rằng nguồn tài chính nợ có ý nghĩa trong việc giảm đi vấn đề đại diện hay không.
Ông đưa kết quả trong nghiên cứu của mình rằng nợ ngân hàng là công cụ giám sát hiệu quả để giảm đi chi phí đại diện trong các công ty ở Anh. Quyền sở hữu của nhà quản trị, sự tập trung quyền sở hữu và trong một số phạm vi nào đó, nợ ngân hàng cũng có thể hoạt động như một cơ chế hoặc công cụ quản lý tiềm năng cho các công ty ở Anh. Ví dụ như thông báo của một hợp đồng ngân hàng truyền tải tín hiệu tốt về người đi vay, xem người đi vay có là đối tượng an tòan không, khả thi không, và vì vậy mà giảm đi sự bất cân xứng thông tin giữa người mượn và nhà đầu tư. Hơn nữa, vẫn còn tranh cãi rằng nợ ngân hàng có thuận tiện để so sánh với nợ thương mại trong việc giám sát công khai hoạt động công ty và thu thập xử lý thông tin hay không.
Chi phí đại diện và cấu trúc vốn Jensen (1986) cho rằng nợ như là cứu cánh của vấn đề đại diện. Để cứu phần tiền mặt bị các nhà quản trị sử dụng không hiệu quả, một phần dòng tiền mặt được đưa trực tiếp cho các trái chủ, điều này có nghĩa là dòng tiền mặt được lấy ra khỏi công ty. Ang and Cox (1997) đưa ra kết quả rằng nợ không có tác động cố định trong việc kiểm soát chi phí đại diện của giao dịch bên trong. Vilasuso and Minkler (2001) cũng thấy rằng cấu trúc vốn tối ưu làm giảm đi chi phí đại diện.