Chương 1: Chương 2: nghiên trên quan chi Đầu tiên tác giả trình bày nghiên trên lý thuyết chi phí đại diện. theo, nghiên trên quan chi Sau mô nghiên 4 nghiên quan chi công ty niêm trên HOSE. Chương 3: Phương nghiên nghiên phương nghiên nghiên và mô hình nghiên cứu. Chương 4: mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và chi phí đại diện của các công ty cổ phần niêm yết trên mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và chi phí đại diện của các công ty cổ phần niêm yết trên 5 CHƯƠNG 2: NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CHI PHÍ ĐẠI DIỆN.
Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về lý thuyết chi phí đại diện. Trong này, tác giả tóm lại kết quả nghiên cứu tại một số nước trên thế giới liên quan về chủ đề lý thuyết chi phí đại diện. Các kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày theo thứ tự thời gian: Tác giả Adam Smith đã viết trong cuốn “Của cải của các quốc gia”, xuất bản năm 1779, “Giám đốc của những công ty công ty cổ phần, là những nhà điều hành tài sản của người khác nhiều hơn là tài sản của chính họ, vì vậy không thể hy vọng rằng họ sẽ thực hiện việc điều hành với cùng một sự chú ý như những giám đốc của các công ty tư nhân. Họ như là quản gia của những người giàu có, họ có khuynh hướng không quan tâm đến những vấn đề nhỏ và rất dễ bỏ qua vì nghĩ rằng đó không phải là việc của mình.
Sự lơ đễnh và hoang phí, vì vậy, luôn thắng thế, không ít thì nhiều, trong việc điều hành mọi việc của công ty dạng này”, tác giả thấy rằng luôn tồn tại mâu thuẫn lợi ích giữa một bên là người chủ công ty và một bên là những người được thuê điều hành công ty đó (khi người chủ vì một lý do nào đó, khách quan hay chủ quan, không thể trực tiếp điều hành công ty). Các ông chủ bỏ tiền ra thuê người đại diện cho mình điều hành công ty luôn muốn tối đa hoá lợi nhuận của công ty, cụ thể hơn là tối đa hoá phần lợi nhuận mà họ được nhận, tuy nhiên, lợi ích của những người đại diện đó lại không đồng nhất với việc tối đa hoá lợi nhuận của công ty, có thể mục tiêu của họ là nhận được những khoản tiền hoa hồng từ những hợp đồng cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho công ty; có thể họ sẽ ra một quyết định không nhằm mục đích lợi nhuận tối đa cho công ty; có thể họ sẽ trốn tránh trách nhiệm, vì họ có cố gắng nhiều hay ít thì mức lương tháng họ được nhận vẫn 6 như nhau, không hề thay đổi… Các ông chủ phải tốn một khoản chi phí để giám sát người đại diện và hành động của họ, đảm bảo họ sẽ cố gắng hết sức và đưa ra những quyết định phục vụ cho mục đích của người chủ. Và khoản chi phí đó được gọi là “chi phí đại diện” Năm 1932, Aldore Berle and Garnier Means đã trình bày lý thuyết về quản trị trong các công ty đại chúng, nơi có sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, hai ông thấy rằng trong các công ty lớn quyền sở hữu và kiểm soát thường tách biệt và sự tách biệt này có tính ngẫu nhiên. Jensen and William H.
Meckling đã có bài nghiên cứu về Lý thuyết về công ty: Cách quản lý, chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu, trong bài này hai tác giả đã tích hợp các yếu tố từ lý thuyết đại diện, lý thuyết về quyền sở hữu, lý thuyết tài chính để phát triển thành lý thuyết cấu trúc sở hữu công ty, hai tác giả cũng đã định nghĩa chi phí đại diện, chỉ ra sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, kiểm tra bản chất của chi phí đại diện được tạo bởi sự tồn tại của nợ và vốn chủ sở hữu bên ngoài, chứng minh ai là người gánh chịu các chi phí này, nguyên nhân và kiểm tra tính tối ưu Pareto về sự hiện diện của chúng. Các tác giả cũng đưa ra định nghĩa mới về công ty, và cho thấy rằng các phân tích của họ về các yếu tố ảnh hưởng đến quyền bồi thường vốn cổ phần và nợ chỉ là trường hợp đặc biệt xét ở phía người cung cấp về sự hoàn thiện bài toán thị trường. Trong bài nghiên cứu các tác giả đã định nghĩa chi phí đại diện là tổng của ba thành phần: Thứ nhất, chi phí giám sát bởi người chủ: là chi phí người chủ bỏ ra để giới hạn các hành động bất thường của người đại diện. Thứ hai, chi phí ràng buộc người đại diện: để đảm bảo người đại diện không gây hại đến người chủ, hoặc để đảm bảo người chủ được bồi thường khi người đại diện hành động dẫn đến các thiệt hại 7 Thứ ba, các thiệt hại thặng dư: thiệt hại do sự phân hóa giữa các quyết định của người đại diện và các quyết định có lợi cho người chủ Năm 1980, Eugene F.
Fama Trường đại học Chicago đã nghiên cứu về vấn đề đại diện và lý thuyết công ty, tác giả giải thích trong các công ty lớn sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý có thể xem là hình thức hiệu quả của một tổ chức kinh tế. Hai chức năng của người chủ doanh nghiệp là quản lý và gánh chịu rủi ro – được coi như là các yếu tố phân định. Công ty sẽ bị áp lực bởi sự cạnh tranh từ những công ty khác, tạo áp lực để phát triển những phương tiện giám sát hoạt động toàn công ty và từng thành viên. Từng thành viên trong công ty, đặc biệt là các nhà quản lý đều phải đối mặt với các thử thách và cơ hội do thị trường tạo ra cho dịch vụ của họ cả bên trong và bên ngoài công ty.
Fama trường đại học Chicago và Michael C. Jensen trường đại học Rochester, hai tác giả tiếp tục nghiên cứu về sự phân định quyền sở hữu và quyền quản lý. Mục tiêu của các tác giả là giải thích sự tồn tại của các tổ chức có đặc trưng bởi sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát. Chính xác hơn các tác giả quan tâm đến sự tồn tại của các tổ chức trong đó những người đại diện không phải gánh chịu mất mác về tài sản do các quyết định của họ gây ra.
Các tác giả đã lập luận rằng sự phân định của các chức năng ra quyết định và gánh chịu rủi ro trong các công ty lớn là tương tự như những công ty khác. Các tác giả cho rằng sự phân định này tồn tại trong các công ty là do lợi ích của việc quản lý chuyên nghiệp và gánh chịu rủi ro, nhưng cũng là do cách tiếp cận hiệu quả để giám sát các vấn đề đại diện phát sinh bởi sự phân định này. Từ nghiên cứu của các tác giả trên, tác giả rút ra định nghĩa chi phí đại diện là tổng của các loại chi phí: chi phí giám sát (monitoring cost) để giám sát hoạt động của người đại diện, như là chi phí kiểm toán; chi phí ràng buộc (bonding cost) để thiết lập một bộ máy có thể tối thiểu những hành vi quản trị 8 không mong muốn, như là bổ nhiệm những thành viên bên ngoài vào ban điều hành hay tái thiết lập hệ thống tổ chức của công ty; và mất mát phụ trội (residual loss) hay chi phí cơ hội khi các cổ đông thuê người đại diện và buộc phải đưa ra các hạn chế, ví dụ những thiệt hại do người đại diện lạm dụng quyền được giao để tư lợi, những thiệt hại do việc đặt ra quy định đối với quyền bỏ phiếu của cổ đông về những vấn đề cụ thể, thiệt hại từ những biện pháp kiểm soát hoạt động của người đại diện. chi trên như sau: Chi phí giám sát: là những chi phí do người chủ trả để đo lường, giám sát và kiểm tra hoạt động của người đại diện.
Có thể gồm các chi phí cho hoạt động kiểm tra giám sát, chi phí ký kết hợp đồng bồi hoàn và cuối cùng là chi phí sa thải đối với người đại diện. Ban đầu những chi phí này do người chủ trả, nhưng Fama và Jensen (1983) cho rằng cuối cùng thì đây là chi phí do người đại diện gánh chịu vì các khoản tiền lương, tiền thưởng, các ưu đãi khác,… của họ sẽ bị điều chỉnh để bù đắp những chi phí này. Chi phí ràng buộc: Giả sử rằng người đại diện là người cuối cùng gánh chịu chi phí giám sát, rằng họ có thể xây dựng hệ thống hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận tối đa cho cổ đông, hoặc họ sẽ chịu bồi thường nếu họ vi phạm các điều khoản của hợp đồng đại diện, khi đó chi phí thiết lập và giữ vững hệ thống hoạt động này được gọi là chi phí ràng buộc. Mất mác phụ trội: Bất chấp việc giám sát và sự ràng buộc, lợi ích của người đại diện và cổ đông vẫn không chắc chắn hoàn toàn đồng nhất.
Vì vậy, vẫn có thiệt hại do vấn đề người đại diện phát sinh từ những mâu thuẫn lợi ích. Những thiệt hại đó được gọi là mất mát phụ trội. Chúng phát sinh do những khoản chi đảm bảo tính hiệu lực của hợp đồng đại diện lớn hơn lợi ích đem lại từ việc thực thi hợp đồng. Vì các hoạt động quản trị là rất khó giám sát nên để ký một hợp đồng đầy đủ cho mỗi tình huống là điều không thể.
Kết quả là sự phát sinh những mất mát phụ trội. Ví dụ: người đại diện 9 có thể lợi dụng việc nắm bắt những thông tin nội bộ để tư lợi, để ký kết các hợp đồng với các đối tác và hưởng toàn bộ khoản hoa hồng. nghiên trên liên quan quan chi Trong này, tác giả tóm c lại kết quả nghiên cứu tại một số nước trên thế giới liên quan về chủ đề quan chi của các tác giả đi Các kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày theo thứ tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại, cụ thể như sau: Năm 1999, hai tác giả John Theis, Michael Casey Database cho đến tháng 4 năm 1997, mẫu này bao gồm 55 công ty có trụ sở tại Anh.