phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn, hiệu quả tài chính của doanh nghiệp và các nghiên cứu có liên quan. Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Các hàm ý chính sách từ kết quả nghiên cứu. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Lý thuyết về cấu trúc vốn đƣợc đề xuất đầu tiên bởi Modigliani và Miller (1958) cho rằng, cấu trúc vốn không có ảnh hƣởng lên giá trị công ty.
Lý thuyết này đƣợc xây dựng dựa trên những giả định phi thực tế về sự hoàn hảo của thị trƣờng nhƣ không có thuế và chi phí giao dịch, công ty có thể vay với cùng một mức lãi suất, thông tin có sẵn cho tất cả các nhà đầu tƣ. Trong thực tế, những giả định này không tồn tại [18]. Do đó, khi xem xét lại điều kiện thực tế của thị trƣờng nhƣ có sự tồn tại của thuế, Modigliani và Miller (1963) đã kết luận rằng, công ty nên sử dụng càng nhiều nợ càng tốt để gia tăng giá trị công ty nhờ tác dụng của lá chắn thuế [19]. Zeitun & Tian (2007) thực hiện nghiên cứu 167 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Amman – Jordan thuộc 16 ngành nghề kinh doanh khác nhau trong lĩnh vực phi tài chính từ năm 1989 – 2003.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ nợ (LEVERAGE), tốc độ tăng trƣởng của tổng tài sản (GROWTH), quy mô công ty (SIZE), thuế (TAX), rủi ro đƣợc đo bằng độ lệch chuẩn của dòng tiền (STDVCF), tỷ trọng tài sản cố định (TANGIBILITY) có tác động đến hiệu quả hoạt động đo lƣờng thông qua ROA, ROE, PROF, Tobin’ s Q, MBVR, MBVE, P/E. Trong đó, biến tỷ lệ nợ có tác động mạnh nhất [22]. Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2010) về các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính theo phƣơng pháp phân tích đƣờng dẫn dựa trên cơ sở số liệu báo cáo tài chính trong 3 năm (2007-2009) của 428 doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Hà Nội và Hồ Luan van 5 Chí Minh. Kết quả cho thấy tỉ suất nợ bình quân của 428 doanh nghiệp là 51.74% trong đó có sự khác biệt khá lớn giữa các doanh nghiệp; các nhân tố hiệu quả kinh doanh, rủi ro kinh doanh và cấu trúc tài sản tác động tỉ lệ nghịch đến cấu trúc tài chính, trong khi qui mô của doanh nghiệp lại có tác động tỉ lệ thuận đến cấu trúc tài chính.
Đối với hiệu quả tài chính, tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) trung bình của các doanh nghiệp là 17.63% và chỉ tiêu này cũng có sự biến động khá lớn giữa các doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cả Hiệu quả hoạt động kinh doanh và Cấu trúc tài chính có tác động cùng chiều đến ROE và hai nhân tố này giải thích đƣợc 90% sự biến động của ROE [1]. Nguyễn Tấn Vinh (2011) sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 175 công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Hà Nội để xem xét ảnh hƣởng của hoạt động công ty đến cơ cấu vốn kết hợp với các biến số khác nhƣ quy mô công ty, cơ hội phát triển, tài sản cố định và ảnh hƣởng mà cơ cấu vốn tác động đến giá trị thị trƣờng của công ty. Kết quả đã chỉ ra rằng có lợi nhuận có sự tác động tích cực đến tất cả các số đo về cơ cấu vốn của công ty bao gồm tỷ suất nợ, tỷ suất nợ ngắn hạn, tỷ suất nợ dài hạn, tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu.
Mặt khác cơ cấu vốn của công ty không có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với hiệu quả hoạt động đo lƣờng qua chỉ số P/E [8]. Albert Amponsah Addae và các cộng sự (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và lợi nhuận của 34 doanh nghiệp niêm yết tại Ghana trong khoản thời gian từ năm 2005 đến 2009 bằng phƣơng pháp hồi quy với dữ liệu bảng. Tác giả sử dụng biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA). Cơ cấu vốn đƣợc đo lƣờng bởi 3 chỉ tiêu là tỷ suất nợ ngắn hạn, tỷ suất nợ dài hạn và tỷ suất tổng nợ trên tổng tài sản.
ngoài ra tác giả còn sử dụng thêm hai biến kiểm soát là tăng trƣởng doanh thu và quy mô doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng Luan van 6 tỷ suất nợ ngắn hạn có quan hệ ngƣợc chiều với lợi nhuận, tỷ suất nợ dài hạn và tỷ suất nợ có quan hệ cùng chiều với lợi nhuận [11]. Odongo Kodongo và các cộng sự (2014) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả tài chính của công ty niêm yết tại Kenya trong giai đoạn 2002-2011. Kết quả đã chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lợi của các công ty niêm yết tại Kenya.
Tuy nhiên, đòn bẩy không ảnh hƣởng đến Tobin’ Q – chỉ số đại diện cho giá trị công ty [21]. Bokhtiar Hasan và các cộng sự (2014) nghiên cứu ảnh hƣởng của cấu trúc vốn đối với hoạt động của công ty với mẫu gồm 36 công ty Bangladesh đƣợc niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Dhaka trong giai đoạn 2007-2012. Đã chỉ ra rằng cấu trúc vốn có ảnh hƣởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của công ty [17]. Đoàn Ngọc Phúc (2014) nghiên cứu ảnh hƣởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp sau cổ phần hóa với nguồn dữ liệu gồm 217 doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội từ năm 2007 – 2012.
Kết quả hồi quy cho thấy nợ dài hạn có tác động tích cự đến ROA và ROE, trong khi nợ ngắn hạn và tổng nợ tác động tiêu cự đến ROE và ROA. Nghiên cứu cũng tìm ra mối quan hệ dƣơng có ý nghĩa thống kê giữa quy mô doanh nghiệp và độ tăng trƣởng doanh thu đến ROA và ROE [4]. Nguyễn Thị Cẩm Hƣơng (2015) nghiên cứu ảnh hƣởng của nhân tố cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính của các công ty ngành khai khoáng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong 5 năm (2009-2013) đã cho thấy cấu trúc tài chính có ảnh hƣởng ngƣợc chiều đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp [3]. Phan Thanh Hiệp (2016) nghiên cứu ảnh hƣởng của cấu trúc vốn lên kết Luan van 7 quả kinh doanh của 95 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2013, bằng phƣơng pháp ƣớc lƣợng OLS, FEM, REM đã cho thấy ảnh hƣởng ngƣợc chiều của cấu trúc vốn lên hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là chắc chắn và có ý nghĩa thống kê cao [2].
Tất cả các nghiên cứu trên đã cho thấy một mối quan hệ hoặc tích cực hoặc tiêu cực giữa cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính của công ty. Tìm hiểu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp để tìm ra hƣớng điều chỉnh cơ cấu vốn hợp lý làm tăng hiệu quả hoạt động, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp là một yêu cầu bức thiết. Tuy nhiên chƣa có một đề tài nào nghiên cứu tại các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Đây chính là lý do em chọn đề tài này.
Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN, HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về cấu trúc vốn Thuật ngữ cấu trúc tài chính, cấu trúc vốn đƣợc rất nhiều các nhà kinh tế trong ngoài nƣớc sử dụng. Chúng ta cùng xem xét một số khái niệm về cấu trúc tài chính: - Theo Stephen A. Westerfield và Bradford D. - Theo Colin Firer và cộng sự (2004), cấu trúc tài chính đề cập đến sự pha trộn của nợ và vốn chủ sở hữu mà một doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp [7] [13].
Thuật ngữ cấu trúc vốn thƣờng đi kèm với thuật ngữ cấu trúc tài chính: - Theo Trần Ngọc Thơ thì “ Cấu trúc vốn là sự kết hợp số lƣợng nợ ngắn hạn thƣờng xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ƣu đãi và vốn cổ phần thƣờng đƣợc dùng để tài trợ cho quyết định đầu tƣ của một doanh nghiệp. Ngƣợc lại, cấu trúc tài chính là sự kết hợp nợ vay ngắn hạn, nợ dài hạn, cổ phần ƣu đãi và vốn cổ phần thƣờng đƣợc dùng để tài trợ cho quyết định đầu tƣ của một doanh nghiệp” [6]. Nhƣ vậy cấu trúc vốn là một phần của cấu trúc tài chính. Tuy nhiên cả hai thuật ngữ đều đƣợc dùng để phản ánh mối tƣơng quan tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu.
Các quan điểm gần nhƣ đồng nhất hai khái niệm này. Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối đa hóa lợi nhuận từ các cá nhân và tổ chức Luan van 9 liên quan đến doanh nghiệp cũng nhƣ hoạt động liên quan đến doanh nghiệp, mà còn bởi tác động của quyết định này đến năng lực kinh doanh vốn của doanh nghiệp trong môi trƣơng cạnh tranh. Dựa vào các quan điểm trên cấu trúc vốn của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp, đó là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. - Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tƣ góp vốn liên doanh, liên kết và thông qua đó doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán.
Do vậy vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ. Tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trong cấu trúc vốn phản ánh tình hình tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Đặc điểm: + Do các chủ sở hữu của doanh nghiệp đóng góp. + Chỉ chia lợi tức cho chủ sở hữu của doanh nghiệp đóng góp.
+ Lợi tức chia cho các chủ sở hữu dựa trên quyết định của hội đồng quản trị và mức lợi nhuận của công ty. + Doanh nghiệp không phải hoàn trả tiền vốn đã nhận đƣợc từ chủ sở hữu, trừ trƣờng hợp doanh nghiệp phá sản.