PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Toàn cầu hoá và khu vực hoá kinh tế thế giới ngày nay đang trở thành trào lƣu quốc tế. Hiện trên thế giới có khoảng 172 khu mậu dịch tự do, tổng kim ngạch thƣơng mại nội khối của các khu vực này chiếm trên 50% tổng kim ngạch trao đổi thƣơng mại toàn cầu. Điều đó chứng tỏ, qua những ƣu đãi mà các thành viên trong khu vực mậu dịch tự do dành cho nhau, các bên sẽ có không gian rộng hơn để phát triển kinh tế nƣớc mình, đồng thời đóng góp vào sự phát triển chung của khối, xu hƣớng này ngày càng đƣợc nhiều quốc gia lựa chọn.
Trung Quốc và ASEAN cũng không nằm ngoài xu thế này, chỉ có hoà nhập mới có thể phát triển đƣợc. Với vị trí địa lý liền kề, giao thƣơng đã phát triển từ thời xa xƣa, ngày nay, quan hệ kinh tế, chính trị láng giềng hữu nghị tốt đẹp đã tạo cơ sở vững chắc để hai bên đi đến quyết định thành lập khu vực mậu dịch tự do. Năm 2001, Thủ tƣớng Trung Quốc Chu Dung Cơ đã đề ra ý tƣởng thành lập Khu mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN (CAFTA) và ngày 4/11/2002 tại Hội nghị thƣợng đỉnh ASEAN-Trung Quốc lần thứ 6, hai bên đã chính thức ký kết Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện, trong đó đề cập tới việc thành lập khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN vào năm 2010. Việc thành lập khu mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN sẽ tạo điều kiện cho cả hai thực thể phát triển và tăng cƣờng quan hệ hữu nghị, tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác và phát triển kinh tế, mở rộng không gian thƣơng mại và đầu tƣ.
Thông qua hợp tác toàn diện về kinh tế, các bên sẽ điều chỉnh kết cấu ngành nghề cho phù hợp, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trƣờng quốc tế, có lợi cho việc phát triển kinh tế trong khu vực. Làm thế nào phát huy đƣợc những nhân tố có lợi, hạn chế những tác động tiêu cực của khu vực mậu dịch tự do trong bối cảnh toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ nhƣ hiện nay, từ đó đánh giá tác động của CAFTA đối với Việt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nam, quan hệ thƣơng mại Việt-Trung trong bối cảnh CAFTA, tăng cƣờng tận dụng những lợi ích do CAFTA đem lại, để Việt Nam hội nhập thành công hơn trong khu vực và trên thế giới. Đề tài “Quá trình hình thành Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN và tác động tới thƣơng mại và đầu tƣ của Trung Quốc đối với ASEAN” đƣợc lựa chọn nghiên cứu sẽ đáp ứng yêu cầu thực tiễn cấp bách của các ban ngành quản lý nhà nƣớc nói chung và của các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực cũng nhƣ hoà nhập vào quỹ đạo của nền kinh tế quốc tế. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC Những năm 80 thế kỷ 20, cùng với sự phát triển nhanh chóng trong quan hệ kinh tế, đề tài quan hệ kinh tế Trung Quốc- ASEAN dần trở thành tâm điểm chú ý của giới học giả trong và ngoài nƣớc, tuy nhiên, các công trình trong thời gian này còn ít.
Đến những năm 90 thế kỷ 20, quan hệ Trung Quốc- ASEAN bƣớc vào giai đoạn phát triển toàn diện và ổn định hơn, các công trình nghiên cứu cũng nhiều hơn về số lƣợng và đi sâu vào nhiều lĩnh vực. Bƣớc vào những năm đầu thế kỷ 21, Trung Quốc- ASEAN ký hiệp định thành lập Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN đã thu hút sự chú ý của đông đảo giới học giả Việt Nam, Trung Quốc, các nƣớc ASEAN cũng nhƣ học giả phƣơng Tây. Qua khảo sát các công trình nghiên cứu đi trƣớc, chúng tôi xin tổng kết một số khuynh hƣớng nghiên cứu chính nhƣ sau: 2. Quá trình hình thành CAFTA và ý nghĩa chiến lƣợc của nó.
Sau khi Trung Quốc và ASEAN quyết định thành lập CAFTA, nhiều nghiên cứu đã đƣợc công bố, tập trung đánh giá quá trình hình thành CAFTA và ý nghĩa chiến lƣợc cả về mặt kinh tế lẫn chính trị. Có thể kể ra những công trình nhƣ: “Bàn về triển vọng và thách thức của “Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN” của tác giả Triệu Xuân Minh và Lƣu Chấn Lâm, “Hƣớng tới FTA-Chiến lƣợc và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đối sách xây dựng khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN” do tác giả Diệp Phổ Thanh chủ biên, “Trung Quốc-ASEAN, “China and ASEAN-Renavigating Relations for a 21 st-Century Asia” của Alice D. Trong đó, điển hình là cuốn sách “Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN và Quảng Tây” do Cổ Tiểu Tùng chủ biên ra đời ngay sau khi Trung Quốc và ASEAN ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện vào tháng 11 năm 2002[53]. Các tác giả đã khái quát bức tranh toàn cảnh về quá trình hình thành CAFTA, đồng thời, nêu lên ý nghĩa chiến lƣợc của việc thành lập khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN đối với các nƣớc thành viên.
Theo các tác giả, việc thành lập CAFTA có ý nghĩa kinh tế và chiến lƣợc quan trọng, sẽ tạo ra hiệu quả thúc đẩy quan hệ kinh tế, thƣơng mại giữa hai bên, thúc đẩy có hiệu quả quan hệ kinh tế, thƣơng mại song phƣơng phát triển. Thông qua số liệu thống kê tình hình thƣơng mại, đầu tƣ giữa Trung Quốc- ASEAN ba quý đầu năm 2002, các tác giả đã kết luận, kim ngạch thƣơng mại song phƣơng tăng trƣởng nhanh chóng, đạt 38,55 tỉ USD, tăng 27,5% so với cùng kì năm 2001, trong đó xuất khẩu của ASEAN sang Trung Quốc tăng 27%, một số nƣớc tăng 50%, kim ngạch đầu tƣ song phƣơng cũng tăng lên nhanh chóng. Ngoài ra, việc thành lập CAFTA còn có ý nghĩa chiến lƣợc đặc biệt quan trọng, đó là gắn kết Trung Quốc và ASEAN thành một chỉnh thể, từ đó nâng cao vị thế kinh tế của Trung Quốc và ASEAN trên trƣờng quốc tế. Trong bài viết của mình, Alice D.
Ba cho rằng, đối với Trung Quốc, việc thành lập CAFTA mang ý nghĩa về mặt chính trị nhiều hơn về mặt kinh tế. Với CAFTA, Trung Quốc muốn thể hiện vai trò cƣờng quốc của mình ở châu Á, đồng thời làm mờ nhạt vai trò của Mỹ ở khu vực [75]. Cùng chia sẻ mối quan tâm chung với học giả thế giới về việc thành lập CAFTA và ý nghĩa chiến lƣợc của nó, học giả Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về khía cạnh này, trong đó có các bài viết của Nguyễn Hồng Thu: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN- Quá trình hình thành, thực trạng và triển vọng”, Nguyễn Xuân Thắng, Bùi Trƣờng Giang: “Khu vực thƣơng mại tự do ASEAN-Trung Quốc và triển vọng hợp tác ASEAN-Trung Quốc”. Trong đó, các tác giả đã tập trung phân tích khía cạnh chiến lƣợc của việc thành lập CAFTA, cho rằng, việc thành lập CAFTA tạo ra môi trƣờng hoà bình, ổn định xung quanh khu vực để các nƣớc phát triển, tạo ra sự ổn định về chính trị để tăng cƣờng thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài.
Tác động của CAFTA đối với thƣơng mại, đầu tƣ giữa Trung Quốc và các nƣớc ASEAN. Tháng 10 năm 2001, Nhóm chuyên gia hợp tác kinh tế Trung Quốc- ASEAN đã đƣa ra báo cáo nghiên cứu với tiêu đề: “Thắt chặt quan hệ kinh tế Trung Quốc- ASEAN trong thế kỷ 21” (Forging closer ASEAN-China Economic Relations in the Twenty-First Century), đây là văn kiện mang tính lịch sử có ý nghĩa quan trọng và ảnh hƣởng lớn tới quan hệ Trung Quốc- ASEAN trong thế kỷ mới. Báo cáo chia thành 2 phần, phần báo cáo chính và báo cáo của từng bƣớc thành viên ASEAN, nghiên cứu về ảnh hƣởng của việc Trung Quốc gia nhập WTO và tính khả thi của việc xây dựng khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN, báo cáo cho rằng, việc xây dựng khu vực mậu dịch tự do là kết quả “hai bên cùng thắng”. Đồng thời nêu rõ, sau khi CAFTA thành lập, xuất khẩu của ASEAN sang Trung Quốc sẽ tăng 48%, xuất khẩu của Trung Quốc sang ASEAN sẽ tăng 55%, GDP của ASEAN tăng thêm 0,9%, GDP Trung Quốc sẽ tăng thêm 0,3%.
Kim ngạch thƣơng mại nội khối sẽ tăng mạnh, gần bằng mức trao đổi thƣơng mại nội khối của EU và khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ. Tỉ trọng thƣơng mại nội khối sẽ tăng từ mức 20% hiện nay lên trên 30%, tỉ trọng đầu tƣ nƣớc ngoài vào khu vực cũng tăng lên rõ rệt [76]. Cũng về chủ đề này, tác giả Thôi Nhật Minh có bài viết: “Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN: từ ý tưởng tới hiện thực” [48]. Dựa trên cơ sở lí luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của những khu vực mậu dịch tự do trong lịch sử và phân tích thực tiễn khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN, tác giả đánh giá một số ảnh hƣởng của việc thành lập khu vực mậu dịch tự do tới nền kinh tế các nƣớc thành viên, chủ yếu bao gồm: một là, sau khi thuế quan trong khu vực mậu dịch tự do giảm, sẽ tạo ra hiệu quả “sáng tạo mậu dịch”, tăng cơ hội thƣơng mại; hai là, do hàng rào thƣơng mại trong khu vực thấp hơn so với ngoài khu vực, sẽ tạo ra “hiệu quả chuyển hoán mậu dịch” do các thành viên trong khu vực trƣớc đây trao đổi thƣơng mại với các khu vực bên ngoài nay di chuyển vào trong khu vực; ba là, “hiệu quả mở rộng thị trƣờng” xảy ra sau khi thị trƣờng khu vực nhất thể hoá; bốn là, “hiệu quả thúc đẩy cạnh tranh” tạo ra do sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong khu vực.
Bên cạnh tác động tích cực, khu vực mậu dịch tự do cũng có ảnh hƣởng tiêu cực đối với các nƣớc thành viên, đó là do “hiệu quả chuyển hoán mậu dịch” dẫn đến thƣơng mại với hiệu quả sản xuất tƣơng đối cao của các quốc gia bên ngoài khu vực bị thay thế bởi thƣơng mại của các nƣớc có sức sản xuất tƣơng đối thấp trong khu vực, từ đó dẫn tới hiệu quả sản xuất giảm, gây ảnh hƣởng không có lợi đối với sự phát triển kinh tế của các nƣớc trong khu vực. Trong nghiên cứu về “Phân tích chỉ số tương quan thương mại Trung Quốc- ASEAN” [59], Hầu Thiết San và Tống Nham đã sử dụng 3 chỉ số: chỉ số cƣờng độ thƣơng mại, chỉ số thƣơng mại nội bộ ngành và chỉ số lợi thế so sánh nổi trội của Balassa để phân tích xu hƣớng quan hệ thƣơng mại giữa Trung Quốc và ASEAN giai đoạn 2001-2003.