Mở đầu. Trong phần này, đề tài trình bày động cơ nghiên cứu của đề tài, các câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp và phạm vi nghiên cứu, cấu trúc nghiên cứu. Chương 2 – Tổng quan về nghiên cứu và cơ sở lý luận. Trong phần này, đề tài trình bày tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm mục đích để xây dựng giả thuyết cho đề tài nghiên cứu.
Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu. Đề tài trình bày về nguồn dữ liệu, mẫu quan sát, phương pháp định lượng được sử dụng và giả thuyết nghiên cứu. Chương 4 – Nội dung và kết quả nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu nghiên cứu thực nghiệm của đề tài được phân tích chi tiết và thảo luận chi tiết trong phần này.
Chương 5 – Kết luận và hàm ý chính sách. Trong phần này, các kết luận quan trọng và hàm ý từ chính sách điều hành và quản lý kinh tế vĩ mô được nhóm tác giả nêu ra trong Phần 5.vn/tp-hcm-chinh-thuc-thuc-hien-chi-thi-18-ve-tung-buoc-phuc-hoi-kinh-te-tu-1-10- 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tỷ giá hối đoái và Biến động tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là một tỷ lệ được sử dụng để quy đổi của một đồng tiền cho một đồng tiền khác hay tỷ giá giữa hai loại tiền tệ khác nhau, hoặc là số lượng đơn vị tiền tệ cần thiết để mua một đơn vị ngoại tệ. Theo Rose (2011), cơ chế xác định tỷ giá hối đoái được lựa chọn bởi chính phủ và duy trì bởi ngân hàng trương ương ở từng quốc gia.
Theo Luật NHNN Việt Nam (2010), tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam. Hay nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài so với một đơn vị Việt Nam đồng (VND). Trong bối cảnh hội nhập và tự do hóa thương mại hiện nay, mặc dù tỷ giá hối đoái được hình thành dựa trên mối quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, nhưng nó được đặt dưới sự giám sát và điều tiết của NHNN Việt Nam. Về cơ bản, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam sử dụng chính sách tỷ giá để định hướng hoạt động xuất nhập khẩu và phát triển kinh tế theo những mục tiêu đã định.
NHNN Việt Nam lựa chọn đồng Dollar Mỹ (USD) là loại ngoại tệ trung tâm trong quản lý điều hành chính sách tỷ giá tại Việt Nam. Hoạt động xuất khẩu làm gia tăng nguồn cung ngoại tệ một cách dồi dào, do đó làm giảm tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái thấp xu hướng giảm, giá trị đồng nội tệ cao sẽ làm cho giá cả hàng hóa của Việt Nam ở nước ngoài tăng lên, đắt hơn so với hàng hóa của nước khác, làm giảm tính cạnh tranh, hạn chế lượng tiêu thụ, kết quả hạn chế sự phát triển của hoạt động xuất khẩu. Ngược lại, tỷ giá hối đoái cao, tức giá trị đồng nội tệ thấp sẽ làm cho giá cả hàng hóa của Việt Nam ở nước ngoài thấp, rẻ hơn so với hàng hóa của nước khác, làm tăng tính cạnh tranh, tiêu thụ nhanh hàng hóa, kích thích hoạt động xuất khẩu.
Đây là một trong những lý do khiến các nước phá giá đồng nội tệ để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Cai (2021) chỉ ra rằng tổng kim ngạch xuất khẩu biến động ngược chiều với tỷ giá hối đoái USD/VND tại Việt Nam, tổng kim ngạch nhập khẩu biến động cùng chiều với tỷ giá hối đoái USD/VND tại Việt Nam trong giai đoạn 1995-2020. Cơ chế điều hành tỷ giá của NHNN được ban hành kể từ năm 2015 tới nay được thực hiện phù hợp với bối cảnh hội nhập sâu rộng của Việt Nam với quốc tế, đề cao tính linh hoạt và chủ động hơn với các biến động từ thị trường (Nguyễn Đức Trung, 2016). 7 Chênh lệch giữa tỷ giá liên ngân hàng và tỷ giá niêm yết của các ngân hàng thương mại ở mức độ nhỏ, làm giảm xu hướng nắm giữ ngoại tệ của tổ chức, cá nhân nhằm mục đích đầu cơ.
NHNN Việt Nam đã mở rộng biên độ tỷ giá ở mức +/-3% vào năm 2015 (so với biên độ +/-1% trước đó). Đồng thời, NHNN đã ban hành Quyết định số 2730/QĐ-NHNN ngày 31/12/2015 về việc công bố tỷ giá trung tâm (USD/VND). Chính sách điều hành tỷ giá của NHNN Việt Nam được đánh giá chung là bắt kịp với những thay đổi thị trường ngoại hối tại Việt Nam cũng như thế giới, đồng thời được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của NHNN. Biến động tỷ giá hối đoái là rủi ro liên quan đến những chuyển động bất ngờ trong tỷ giá hối đoái (McKenzie, 1999).
Như vậy, biến động tỷ giá hối đoái có thể được hiểu là sự thay đổi theo thời gian của tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối. Sự biến động này có khả năng tạo ra rủi ro đối với các hoạt động kinh tế có liên quan tới nó. Các tài liệu tài chính truyền thống chỉ ra rằng mức độ biến động của tỷ giá hối đoái có ý nghĩa rất lớn đối với sự ổn định của hoạt động ngoại thương và môi trường kinh tế-xã hội tại các quốc gia. Cụ thể, nghiên cứu của Byrne và Davis (2005), Devereux (2004) đã lần lượt chỉ ra rằng biến động tỷ giá hối đoái cao hơn làm tăng rủi ro trên thị trường tài chính, làm gia tăng sự không chắc chắn đối với hoạt động đầu tư nước ngoài và dẫn đến giảm phúc lợi xã hội.
Do đó, việc khám phá ra nhân tố tác động đến biến động tỷ giá hối đoái là hết sức cần thiết. Điều này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách xác định được chính xác nguyên nhân, chiều hướng tác động của nhân tố ảnh hưởng đến biến động tỷ giá hối đoái, thông qua đó dự báo được xu hướng biến động tỷ giá hối đoái. Mặt khác, trong quá trình xây dựng và ban hành cơ chế xác định tỷ giá hối đoái, các nhà hoạch định chính sách căn cứ vào tác động của các nhân tố đã được xác định để xây dựng những kịch bản cho hoạt động quản lý và điều hành liên quan đến biến động cực đoan của tỷ giá hối đoái. Các yếu tố tác động đến sự biến động của tỷ giá hối đoái Đa số các nghiên cứu tài chính truyền thống đã chỉ ra rằng mức độ biến động tỷ giá hối đoái có ý nghĩa to lớn đối với sự ổn định ngoại thương của một quốc gia (Chowdhury, 1993; Clark và cộng sự, 2004).
Tỷ giá hối đoái biến động càng mạnh làm tăng rủi ro thị trường tài chính, tăng tính không chắc chắn của đầu tư nước ngoài và dẫn đến giảm phúc lợi xã hội (Byrne và Davis, 2005). Có rất nhiều tác nhân có thể ảnh hưởng 8 trực tiếp hoặc gián tiếp đến tỷ giá hối đoái. Sự thay đổi của các tác nhân này sẽ dẫn đến sự biến động của tỷ giá hối đoái. Do đó, việc tìm nguyên nhân gây ra biến động tỷ giá hối đoái là rất cần thiết.
Bởi vì nó sẽ giúp trả lời câu hỏi biến động tỷ giá hối đoái là do tác nhân nào gây ra và làm thế nào để hạn chế những rủi ro do biến động tỷ giá (được gây ra bởi những tác nhân đó) đối với các hoạt động của nền kinh tế. Theo nghiên cứu của Đào Thanh Bình và Trần Phương Ly (2021), hàng loạt các yếu tố kinh tế vĩ mô có thể tác động đến tỷ giá hối đoái USD/VND trên thị trường ngoại hối Việt Nam, gồm có: - Tỷ giá hối đoái có mối quan hệ tích với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế kích thích nhu cầu chi tiêu của nền kinh tế. Bên cạnh việc xác định tăng trưởng kinh tế thông qua chỉ số GDP (tổng sản phẩm quốc nội của nền kinh tế), chỉ số PPP cũng có thể được sử dụng, chỉ số này dựa trên sức mua của nền kinh tế (Moroşan và Zubaş, 2015).
Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng cho thấy sức mua của người tiêu dùng trong nước tăng, theo đó, hoạt động nhập khẩu tăng lên, khiến giá trị đồng ngoại tệ cao hơn đồng nội tệ. Kết quả là, tỷ giá hối đoái tăng trong trường hợp này và ngược lại. - Các cơ quan quản lý chính sách tiền tệ phản ứng với các biến động về tiền tệ trong phạm vi mà chúng tác động đến, cụ thể là giá tiêu dùng hay lạm phát (Ha và cộng sự. Do đó, lạm phát được xem là nhân tố tác động trực tiếp đến tỷ giá hối đoái.
Khi tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn tỷ lệ làm phát của các quốc gia khác, tỷ giá hối đoái có xu hướng tăng, tức là giá đồng nội tệ của quốc gia đó giảm so với ngoại tệ của các quốc gia được xem xét. Trong diễn biến ngược lại, khi tỷ lệ lạm phát trong nước thấp hơn tỷ lệ lạm phát của các quốc gia khác, tỷ giá hối đoái có xu hướng giảm xuống. - Lãi suất được xem là nhân tố có khả năng tác động gián tiếp đến tỷ giá hối đoái. Lãi suất cũng có tác động đáng kể đến các hoạt động đầu tư nước ngoài, qua đó tác động đến tỷ giá hối đoái (Agyeman và cộng sự.
Lãi suất trong nước được sử dụng để biểu thị giá trị của đồng nội tệ. Khi lãi suất trong nước thấp hơn nước ngoài, giá trị đồng nội tệ bị hạ thấp so với đồng ngoại tệ, dẫn đến tỷ giá hối đoái tăng. Và ngược lại, trong trường hợp lãi suất trong nước cao hơn nước ngoài thì tỷ giá hối đoái giảm, giá trị đồng nội tệ được nâng cao so với đồng ngoại tệ, làm giảm tỷ giá hối đoái. - Tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng bởi cung tiền.
Cung nội tệ quá mức sẽ dẫn đến giảm giá đồng nội tệ (Moroşan và Zubaş, 2015). Gia tăng mức cung tiền dẫn giảm lãi suất danh nghĩa (theo hiệu ứng Fisher). Hầu hết, chính phủ các quốc gia sử dụng chính 9 sách tiền tệ để kiểm soát cung tiền trong nền kinh tế. Thông qua chính sách tiền tệ nới lỏng, chính phủ các nước bơm tiền vào nền kinh tế làm hạ lãi suất (tăng cung tiền), thông qua đó kiểm soát lạm phát.
Kết quả là tỷ giá hối đoái tăng. - Trao đổi thương mại và cán cân thanh toán có thể ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái (Thirlwall, 2003). Trong trường hợp tốc độ tăng giá của các sản phẩm xuất khẩu cao hơn so với tốc độ tăng giá của các sản phẩm nhập khẩu tức là tỷ lệ trao đổi thương mại có xu hướng gia tăng. Điều này làm cho đồng nội tệ tăng, tỷ giá hối đoái giảm và ngược lại.