CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ BĐKH VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN SINH KẾ CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN MIỀN VEN BIỂN 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về tác động của BĐKH tới sinh kế vùng ven biển 1. Các nghiên cứu trên thế giới BĐKH được cho là có tác động đến mọi hoạt động mưu sinh của người dân vùng ven biển, đặc biệt là các hộ nuôi trồng thủy sản.
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới về tính dễ bị tổn thương với sinh kế vùng ven biển trong bối cảnh BĐKH. Khi xem xét các tác động hiện tại và tương lai của BĐKH, có thể nhận thấy rằng, BĐKH là một yếu tố chủ chốt liên quan đến tính dễ bị tổn thương của sinh kế. Các ảnh hưởng của BĐKH (ví dụ như mực nước biển dâng và các điều kiện thời tiết khắc nghiệt) lên các nguồn lực tự nhiên (nhưđất, nước, thủy sản) và các nguồn lực vật chất (nhưđường sá, hệ thống thủy lợi, mạng lưới điện) là rất đáng kể. Một số nghiên cứu về biến động khí hậu trong quá khứ và hiện tại tác động đến lĩnh vực thủy sản, một số khác nghiên cứu về các kịch bản BĐKH trong tương lai và dự báo tác động của nó đến ngành công nghiệp thủy sản[29].
Các nghiên cứu này được thực hiện ở nhiều quy mô và khác nhau, từ cấp độ cộng đồng đến quốc gia và cả các vùng địa lý rộng lớn như Thái Bình Dương, Châu Phi hay Đông Nam Á. Tuy nhiên, chính do đặc thù nghiên cứu ở nhiều cấp độ nên phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương cho nuôi trồng thủy sản cũng rất khác nhau trong các nghiên cứu. Theo Chambers và Conway (1992) các sinh kế bền vững là các sinh kế có thể đối phó và phục hồi từ các cú sốc, duy trì hoặc tăng cường năng lực và tài sản trong khi không làm suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên [22]. Trong bối cảnh BĐKH ngày càng trở nên phức tạp cả ở hiện tại và tương lai, các sinh kế được đánh giá không chỉ dựa vào việc các sinh kế này có bền vững trên 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường hay không mà còn dựa vào việc các sinh kế này có thể giảm nhẹ BĐKH hoặc thích ứng với BĐKH hay không [3, 10].
Đối với những nơi khó khăn và sinh kế phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên thiên nhiên thì chính là nơi dễ bị tổn thương nhất do BĐKH. Cộng đồng là chủ nhân nhưng cũng là nạn nhân nhận lãnh hậu quả BĐKH. Cư dân đang mưu sinh tại các địa bàn vùng trung du, miền núi, nhất là những vùng đất thấp 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuộc lưu vực sông, cửa sông, bãi ngang. đang chịu ảnh hưởng hết sức to lớn của biến đổi khi hậu và nguy cơ của nó ngày càng lớn.Nông nghiệp là ngành bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các hiện tượng khí hậu cực đoan do tác động của BĐKH.
Trong nghiên cứu của Helal Ahammad đãđề cập tới “các vấn đề và thách thức của nông nghiệp Australia trong việc thích nghi với thay đổi thời tiết, đặc biệt là xem xét các ảnh hưởng của thay đổi khí hậu có thể xảy ra đối với ngành sản xuất nông nghiệp của Australia [13]. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng những khu vực (phụ thuộc lớn vào ngành nông nghiệp) có thể phải chịu những mất mát đáng kể do ảnh hưởng của việc thay đổi khí hậu. Allison et al, 2009 áp dụng phương pháp chỉ số để xác định chỉ số dễ bị tổn thương của 132 quốc gia nhằm so sánh một cách hệ thống tính dễ bị tổn thương tương đối của nền kinh tế quốc gia trước tác động tiềm tàng của BĐKH đối với nghề cá ở quy mô toàn cầu [14]; Johann Bell and Eddie Allison, 2012, đánh giá tính dễ bị tổn thương của việc đánh bắt cá ngừ và đóng góp của ngành công nghiệp chế biến cá ngừ cho nền kinh tế một số quốc gia và vùng lãnh thổ ở Thái Bình Dương bằng phương pháp xác định chỉ số tác động tiềm năng (PI) và khả năng thích ứng (AC) [16]; hay nghiên cứu của Gonza’lz E. et al, 2011, đánh giá tính dễ bị tổn thương của ngành nuôi trồng thủy sản và cho bốn loài thủy sản chính của Chile bằng cách xác định các chỉ số độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng [32].D et al, 2011, đánh giá tính dễ bị tổn thương của nghề cá và nuôi trồng thủy sản ở khu vực nhiệt đới Thái Bình Dương với BĐKH[32].
Trong nghiên cứu này đã sử dụng định nghĩa của IPCC và phương pháp chỉ số, tính toán độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm, tác động tiềm tàng và khả năng thích ứng, để đánh giá tính dễ bị tổn thương về mặt sinh kế và an ninh lương thực. Các kịch bản B1 và A2 theo IPCC được dùng để tính toán cho năm 2035 và 2100. Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nghiên cứu này được áp dụng cho các phương thức nuôi trồng thủy sản và các loài. Các yếu tố phơi nhiễm, nhạy cảm được tính toán cho các loài bao gồm nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển dâng, axit hóa đại dương, bão và sự thay đổi môi trường sống.Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương bằng mô hình thường được kết hợp với các phương pháp khác như phương pháp chỉ số, GIS, phương pháp chuyên gia.
Trong nghiên cứu của Handisyde NT et al, 2006 đã đánh giá tính dễ bị tổn thương 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của nuôi trồng thủy sản ở cấp quốc gia bằng phương pháp chỉ số kết hợp với GIS, đưa ra bản đồ tính dễ bị tổn thương về tầm quan trọng kinh tế của nuôi trồng thủy sản, khả năng thích ứng, tính dễ bị tổn thương về nuôi trồng thủy sản nước ngọt với ngập lụt và hạn hán, nuôi trồng thủy sản nước lợ và nuôi thủy sản trên biển với lốc xoáy [29]. Nhìn chung, các nghiên cứu tập trung vào đánh giá một số loại hình sinh kế của các hộ dân ven biển là chính, đó là những hộ được cho là sẽ phải chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các tác động của BĐKH gây ra. Trong các loại hình sinh kế của các hộ dân ven biển thì nuôi trồng thủy sản và trồng trọt sẽ là hai loại hình sinh kế chịu tác động lớn nhất do BĐKH gây ra thông qua diễn biến thất thường của các hiện tượng thời tiết cực đoan. Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu TDBTT mới chỉ bắt đầu từ những năm cuối của thế kỷ XX và được tiếp cận theo các lĩnh vực khác nhau của hệ thống tự nhiên, kinh tế - xã hội, cộng đồng dân cư và các tài nguyên ven biển trên quy mô nghiên cứu từ vùng/ khu vực đến cả đới ven biển Việt Nam.
Nghiên cứu TDBTT xã hội và khả năng phục hồi ở Việt Nam khi môi trường thay đổi của Adger và cộng sựđã đánh giá TDBTT xã hội ở huyện ven biển miền Bắc Việt Nam (huyện Giao Thủy Nam Định)[12]. Kết quả nghiên cứu cho thấy do sự đổi mới về kinh tế bắt đầu từ giữa thập kỉ 80 đã làm tăng tính bất công bằng trong thu nhập và phúc lợi địa phương gây ảnh hưởng tới năng lực thích nghi của người dân địa phương khi phải đối mặt với cả sự thay đổi tổ chức và những ảnh hưởng của thay đổi khí hậu. Trong các loại hình sinh kế của các hộ ven biển thì nuôi trồng thủy sản chiếm tỷ lệ khá lớn và được cho là chịu tác động trực tiếp và thường gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế cho các hộ dân vùng ven biển. Trong khi đó, thủy sản là một ngành sản xuất chiếm tỉ trọng lớn của nông nghiệp Việt Nam và là đối tượng chịu rủi ro từ tác động của các hiện tượng khí hậu khá rõ ràng, do đó có nhiều hướng nghiên cứu về mối quan hệ này.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Việt Nam và nnk, (2010) đánh giá tác động của BĐKH tới ngành thủy sản để đề xuất các giải pháp thích ứng [5]. Theo báo cáo “Đánh giá tác động, tổn hại của BĐKH đến lĩnh vực thủy sản và 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu, đề xuất các biện pháp thích ứng với BĐKH trong ngành thủy sản Việt nam” (2009) của tác giả Nguyễn Quang Hùng và Hoàng Đình Chiểu, các tác giả đã phân tích rõ các tác động của BĐKH đối với nghề nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam như sau: Nhiệt độ tăng: thay đổi về nhiệt độ môi trường sống sẽ ảnh hưởng đáng kể tới sự trao đổi chất, tốc độ phát triển, sự sinh sản và tái sản xuất theo mùa vụ của các sinh vật sống trong môi trường nước đó, đồng thời chúng sẽ dễ bị nhiễm bệnh và các loại độc tố. Lũ lụt: Đối với nghề nuôi thủy sản nước mặn, nước lợ, độ mặn lại là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của loài nuôi. Khi xảy ra mưa lớn, độ mặn trong các ao nuôi giảm xuống đột ngột vượt ra khỏi ngưỡng chịu đựng làm cho tôm cá bị sốc, chết hoặc chậm lớn.
Lũ xảy ra còn làm cho độ mặn các vực nước gần bờ như các cửa sông giảm xuống, nghề nuôi nhuyễn thể, tôm cá, rong đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Giông bão: Bão và áp thấp nhiệt đới gây ra mưa to, gió lớn, sóng dữ dội có thể tàn phá hoàn toàn hệ thống đê bao của các ao nuôi, lồng bè trên biển, vì vậy tổn thất là điều khó tránh khỏi. Sự tàn phá của bão và áp thấp nhiệt đới còn ảnh hưởng đến hệ sinh thái của vùng nuôi - cần thời gian dài mới có thể phục hồi. So với sự thay đổi nhiệt độ, bão và áp thấp nhiệt đới thường khó có thể dự đoán, ngược lại mức độ ảnh hưởng của nó ảnh hưởng nghiêm trọng hơn rất nhiều.
Mực nước biển dâng: có những ảnh hưởng khá lớn đến nuôi trồng thủy sản nhưng chủ yếu là nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng cửa sông. Khi mực nước biển dâng sẽ làm biến đổi cấu trúc hệ sinh thái, các vùng nuôi tôm cua ven rừng ngập mặn; khu vực nuôi ngao trên bãi triều sẽ bị thu hẹp; khu vực nuôi lồng bè, nuôi hầu ở khu vực cửa sông bị thu hẹp hoặc ảnh hưởng đến sinh trưởng của loài nuôi. Các yếu tố nói trên của biến dổi khí hậu sẽ làm thay đổi điều kiện thủy lý và thủy hóa, ảnh hưởng đến chất lượng sống và tốc độ phát triển của thủy sinh.