Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu (BĐKH) được xem là một trong những thách thức lớn nhất của thế kỷ 21, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế và đời sống cộng đồng, đặc biệt là các khu vực ven biển và đảo nhỏ. Tại Việt Nam, theo Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc, nước ta nằm trong top 5 quốc gia dễ bị tổn thương nhất trước BĐKH. Đảo Cát Bà, thuộc thành phố Hải Phòng, với diện tích quần đảo hơn 33.000 ha và dân số khoảng 21.340 người (2017), là nơi sinh sống chủ yếu của cộng đồng dân cư phụ thuộc vào du lịch, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản cũng như sản xuất nông nghiệp. Trong vòng 30 năm gần đây, các số liệu địa phương ghi nhận sự gia tăng rõ rệt các hiện tượng thời tiết cực đoan cùng với xu thế nước biển dâng, tác động tiêu cực đến tài nguyên thiên nhiên và các loại hình sinh kế trên đảo.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhằm phân tích hiện trạng và đánh giá những tác động đa chiều của BĐKH đến sinh kế người dân trên đảo Cát Bà trong giai đoạn 2007-2017, đồng thời đề xuất các giải pháp ứng phó phù hợp để bảo đảm sinh kế bền vững. Phạm vi nghiên cứu bao gồm toàn bộ xã, thị trấn trên đảo Cát Bà, với dữ liệu thu thập từ các nguồn quan trắc khí tượng thủy văn trong 30 năm và khảo sát hiện trạng sinh kế trong 10 năm. Qua đó, nghiên cứu góp phần làm sáng rõ cơ sở khoa học phục vụ xây dựng chính sách thích ứng của địa phương, đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng về các nguy cơ từ BĐKH, góp phần đảm bảo an ninh sinh kế và phát triển bền vững khu vực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) được phát triển bởi DFID (2001) và Scoones (1998), tập trung phân tích năm loại nguồn lực sinh kế chính: vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn tài chính. Khung lý thuyết này làm nền tảng đánh giá tác động đa chiều của BĐKH đến từng loại vốn cũng như các chiến lược sinh kế mà người dân trên đảo Cát Bà thực hiện.

Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng khung phân tích đặc thù cho vùng ven biển do IMM (2004) phát triển, trong đó bổ sung các biến số về đặc điểm cá nhân và xã hội cùng tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan, nước biển dâng và bão lũ vào quá trình hình thành và điều chỉnh các chiến lược sinh kế. Thêm vào đó, luận văn tham khảo lý thuyết về tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng của CARE (2009), tập trung vào đánh giá năng lực thích ứng với BĐKH dựa trên 5 nguồn lực sinh kế cùng các phương pháp phân loại và xếp hạng các rủi ro thiên tai.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa thu thập số liệu định lượng và định tính:

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu khí hậu và thủy văn thu thập từ Đài Khí tượng Thủy văn Việt Bắc trong vòng 30 năm (1986-2015), báo cáo thống kê kinh tế xã hội của địa phương trong 10 năm (2007-2017), kết hợp với khảo sát thực địa và phỏng vấn 210 hộ dân đại diện cho ba nhóm sinh kế chính (nông nghiệp, thủy sản, du lịch) tại các xã trên đảo Cát Bà, cũng như phỏng vấn chuyên gia và cán bộ quản lý địa phương.

  • Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) kết hợp với phương pháp lấy mẫu phân tầng nhằm đảm bảo tính đại diện của các nhóm sinh kế và xã, thị trấn với tỷ lệ hợp lý (70 hộ/nhóm). Phương pháp tăng cường chất lượng thông tin qua phỏng vấn sâu nhằm khai thác nhận thức, kinh nghiệm và các biện pháp ứng phó thực tế của người dân.

  • Phân tích dữ liệu: Số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả (tính phần trăm, phân bố), phân tích xu thế khí hậu qua các mô hình hồi quy tuyến tính để đánh giá biến động nhiệt độ và lượng mưa. Dữ liệu khảo sát được tổng hợp, phân tích bằng phần mềm Excel hỗ trợ trình bày bằng các biểu đồ, bảng số liệu để minh họa tác động của BĐKH đến nguồn lực sinh kế và chiến lược thích ứng.

  • Timeline nghiên cứu: Quá trình thu thập số liệu diễn ra từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2018, sau đó tiến hành phân tích và viết luận văn trong năm 2018-2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Biến đổi khí hậu rõ ràng tại đảo Cát Bà: Phân tích số liệu 30 năm cho thấy nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,03ºC mỗi năm, với nhiệt độ cao nhất ghi nhận là 37ºC. Lượng mưa biến động lớn với xu thế tăng nhẹ khoảng 2 mm/năm, song có sự phân bố không đều theo mùa. Tần suất bão và mưa lớn tập trung vào các tháng 7-9, làm gia tăng rủi ro thiên tai. Mực nước biển dâng trung bình đạt khoảng 2,5 cm/10 năm, góp phần gia tăng xói mòn bờ biển kéo dài 16,1 km và sạt lở nghiêm trọng tại xã Phù Long.

  2. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nguồn lực sinh kế:

    • Vốn tự nhiên bị ảnh hưởng nặng nề khi diện tích đất nông nghiệp và rừng ngập mặn bị thu hẹp do ngập mặn và xói lở. Khoảng 40 ha đất bị nhiễm mặn tại các vùng ven biển.
    • Vốn tài chính của hộ gia đình giảm sút do nguồn thu từ nuôi trồng thủy sản và đánh bắt cá giảm bình quân 15% trong vòng 5 năm gần đây.
    • Vốn con người chịu tác động khi tỷ lệ lao động trẻ mong muốn rời đảo tăng lên 12%, dẫn đến thiếu hụt lao động có kỹ năng trong các ngành truyền thống.
    • Vốn vật chất ảnh hưởng do nhiều cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và du lịch bị thiệt hại nặng trong các cơn bão, với chi phí sửa chữa tăng lên tới 55% so với 10 năm trước.
    • Vốn xã hội vẫn giữ được mức ổn định nhờ tín nhiệm cộng đồng, nhưng vẫn có khoảng 28% hộ dân chưa tham gia các tổ chức hỗ trợ thích ứng.
  3. Chiến lược sinh kế thay đổi và đa dạng hơn:

    • Gần 70% hộ dân thực hiện đa dạng hóa sinh kế, chuyển từ khai thác tự nhiên sang phát triển dịch vụ du lịch, mô hình nhà nghỉ Homestay, trồng rau hữu cơ và mô hình nuôi ngao hoa.
    • Việc đa dạng hóa đã góp phần tăng thu nhập bình quân hộ dân lên 18% trong vòng 3 năm gần đây, đặc biệt trong nhóm hoạt động dịch vụ du lịch.
    • Tuy nhiên, 33% hộ dân vẫn phụ thuộc chủ yếu vào nghề đánh bắt thủy sản truyền thống với nguy cơ suy giảm lâu dài do giảm trữ lượng thủy sản.
  4. Khả năng thích ứng của cộng đồng còn hạn chế:

    • Chỉ có khoảng 42% hộ dân được đào tạo hoặc tiếp cận kiến thức về BĐKH và các biện pháp ứng phó.
    • Mức độ hỗ trợ từ chính quyền và các tổ chức chưa đồng đều, với 54% hộ dân cho biết chưa nhận được các hỗ trợ thiết thực về kỹ thuật hoặc tài chính.
    • Một số mô hình thích ứng dựa vào cộng đồng như phát triển du lịch sinh thái, trồng cây chắn sóng tại xã Việt Hải đã được đánh giá hiệu quả bước đầu, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng nhiệt độ và lượng mưa không đều trên đảo Cát Bà thể hiện đúng xu hướng toàn cầu và khu vực ven biển, đồng thời phù hợp với nhận định của IPCC về việc tăng tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan. Việc mực nước biển dâng gây xói mòn bờ biển dài 16,1 km đã ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn tài nguyên tự nhiên, đặc biệt là hạn chế đất nông nghiệp, rừng ngập mặn và vùng nuôi thủy sản.

BĐKH dẫn đến sự biến đổi nguồn lực vật chất và tài chính làm gián đoạn trực tiếp đời sống sinh kế. Tuy vậy, các thay đổi về chiến lược sinh kế cho thấy sự chủ động của người dân trong việc thích nghi như đa dạng hóa nghề nghiệp, kết hợp du lịch sinh thái và ứng dụng các mô hình kinh tế xanh, khung sinh kế ven biển cũng xác định rõ vai trò của vốn con người và xã hội trong khả năng thích ứng. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước đó về sinh kế ven biển tại Việt Nam và quốc tế, nhấn mạnh nhu cầu về nâng cao nhận thức và hỗ trợ kỹ thuật cho cộng đồng.

Biểu đồ xu hướng tăng nhiệt độ, lượng mưa cùng bảng so sánh tỷ lệ thu nhập các nhóm sinh kế minh họa rõ sự thay đổi ưu tiên lao động và hiệu quả kinh tế của từng chiến lược sinh kế. Những chỉ số này cũng đánh giá được mức tổn thương ở từng nguồn lực khi đối mặt với tác động của BĐKH.

Khả năng thích ứng còn yếu của người dân là điểm nghẽn cần được khắc phục bằng giải pháp toàn diện vừa về nâng cao năng lực cộng đồng, vừa hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng chính sách phù hợp. Việc tăng cường năng lực thích ứng không chỉ bảo vệ được sinh kế mà còn góp phần giảm thiểu tác động phát thải khí nhà kính của các hoạt động sản xuất và sinh hoạt.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tăng cường đào tạo nâng cao nhận thức và kỹ năng ứng phó BĐKH cho cộng đồng: Tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo về biến đổi khí hậu và các giải pháp thích ứng theo định kỳ, hướng tới nâng tỷ lệ hộ dân có kiến thức BĐKH lên ít nhất 70% trong vòng 2 năm. Chủ thể thực hiện: UBND huyện Cát Hải phối hợp với các tổ chức phi chính phủ và viện nghiên cứu.

  2. Hỗ trợ phát triển mô hình sinh kế đa dạng và bền vững: Ưu tiên các hoạt động đa dạng hóa sinh kế như du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản sạch, nông nghiệp hữu cơ. Thiết lập các quỹ hỗ trợ tín dụng nhỏ để tạo điều kiện tăng thu nhập hộ nghèo và nhóm dễ bị tổn thương trong 3 năm tới. Chủ thể thực hiện: Sở Nông nghiệp, Ngân hàng chính sách xã hội và các tổ chức hợp tác địa phương.

  3. Đầu tư các công trình bảo vệ môi trường và chống xói mòn bờ biển: Xây dựng kè chắn sóng, trồng rừng phòng hộ ven biển và phục hồi rừng ngập mặn tại các khu vực bị ảnh hưởng nặng như xã Phù Long và Việt Hải. Mục tiêu giảm xói lở 30% trong 5 năm. Chủ thể thực hiện: UBND TP Hải Phòng, Sở Tài nguyên - Môi trường, Vườn Quốc gia Cát Bà.

  4. Phát triển hệ thống cảnh báo sớm và quản lý rủi ro thiên tai: Thiết lập hệ thống cảnh báo thời tiết, mực nước dâng phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Tăng cường năng lực ứng phó khẩn cấp, giảm thiểu thiệt hại do bão và lũ lụt trong 2 năm tới. Chủ thể thực hiện: Đài Khí tượng Thủy văn Việt Bắc phối hợp Ban chỉ huy phòng chống thiên tai huyện Cát Hải.

  5. Xây dựng chính sách hỗ trợ dài hạn cho lao động và người dân dễ tổn thương: Tăng cường các phúc lợi xã hội, bảo hiểm thoại, tạo điều kiện tiếp cận các chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ khởi nghiệp cho người dân, hướng tới nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 21% lên 40% trong 5 năm. Chủ thể thực hiện: Hội Nông dân, các tổ chức đoàn thể và Sở Lao động – Thương binh và Xã hội.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Chính quyền địa phương và cơ quan quản lý: Nghiên cứu cung cấp số liệu cập nhật và phân tích thực trạng tác động BĐKH đến sinh kế, hỗ trợ việc xây dựng chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với thích ứng khí hậu.

  2. Các nhà khoa học và nghiên cứu lĩnh vực biến đổi khí hậu và phát triển bền vững: Cung cấp khung tư duy áp dụng lý thuyết sinh kế bền vững kết hợp với đánh giá tổn thương, thích ứng BĐKH tại vùng ven biển và đảo.

  3. Tổ chức phi chính phủ và cơ quan hợp tác phát triển: Là tài liệu tham khảo để thiết kế các chương trình hỗ trợ sinh kế, nâng cao năng lực thích ứng cho cộng đồng, đặc biệt trong bối cảnh BĐKH ngày càng phức tạp.

  4. Người dân và cộng đồng địa phương tại đảo Cát Bà: Giúp nâng cao hiểu biết về tác động BĐKH, nhận thức về các giải pháp sinh kế thích ứng và bền vững, từ đó chủ động ứng phó với các rủi ro liên quan.

Câu hỏi thường gặp

1. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng cụ thể như thế nào đến đời sống người dân đảo Cát Bà?
Biến đổi khí hậu đã làm tăng nhiệt độ trung bình gần 1ºC trong ba thập kỷ và gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, mưa lớn nhiều hơn. Nước biển dâng khoảng 2,5 cm mỗi thập niên khiến đất canh tác bị nhiễm mặn, làm giảm năng suất nông nghiệp và thủy sản, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập của người dân.

2. Các nguồn lực sinh kế nào bị tác động nặng nề nhất bởi BĐKH?
Nguồn lực tự nhiên như đất đai, nước ngọt, nguồn lợi thủy sản chịu ảnh hưởng lớn do xói mòn, ngập mặn; vốn tài chính giảm do thu nhập khai thác thủy sản sụt giảm; vốn vật chất bị thiệt hại trong các cơn bão. Phản ánh rõ qua sự thu hẹp diện tích rừng ngập mặn khoảng 15% trong 10 năm và giảm 15% nguồn thu thủy sản.

3. Người dân đã thực hiện những chiến lược ứng phó BĐKH nào?
Đa số hộ dân đã chuyển đổi nghề nghiệp từ khai thác thủy sản truyền thống sang dịch vụ du lịch, trồng rau hữu cơ, nuôi ngao hoa nhằm đa dạng hóa nguồn thu nhập. Các mô hình nhà nghỉ Homestay và sản xuất thủy sản sạch cũng được phát triển rộng rãi giúp ổn định thu nhập.

4. Khả năng thích ứng của cộng đồng hiện nay ra sao?
Chỉ khoảng 42% hộ dân được đào tạo hoặc tiếp cận kiến thức BĐKH. Sự hỗ trợ từ chính quyền và các tổ chức còn hạn chế, chỉ 54% hộ cho biết đã được nhận hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính. Điều này thể hiện nhu cầu nâng cao năng lực thích ứng cho người dân và mở rộng các chương trình hỗ trợ.

5. Những giải pháp ưu tiên nào được đề xuất để giảm thiểu tác động BĐKH tại đảo Cát Bà?
Giải pháp chú trọng tăng cường đào tạo nâng cao nhận thức, phát triển đa dạng hóa sinh kế bền vững, đầu tư bảo vệ bờ biển và rừng ngập mặn, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm thiên tai, cùng chính sách hỗ trợ lao động dễ bị tổn thương, nhằm đảm bảo sinh kế ổn định và phát triển bền vững trong bối cảnh khí hậu bất thường.

Kết luận

  • Nhiệt độ trung bình và lượng mưa tại đảo Cát Bà có xu hướng tăng nhẹ trong 30 năm qua, trong khi mực nước biển dâng làm gia tăng nguy cơ xói mòn và ngập mặn bờ biển.
  • Các nguồn lực sinh kế của người dân bị ảnh hưởng đa chiều, trong đó nguồn lực tự nhiên và tài chính có mức tổn thương cao nhất.
  • Người dân trên đảo đã chủ động đa dạng hóa các hoạt động sinh kế, chuyển đổi sang lĩnh vực dịch vụ và nông nghiệp sạch để ứng phó với BĐKH.
  • Khả năng thích ứng cộng đồng còn thấp do hạn chế về nhận thức, kỹ năng và thiếu sự hỗ trợ đồng bộ từ chính quyền và tổ chức liên quan.
  • Cần triển khai đồng bộ các giải pháp đào tạo, phát triển sinh kế bền vững, đầu tư hạ tầng bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực quản lý rủi ro để đảm bảo an ninh sinh kế lâu dài.

Tiếp theo, đề nghị các cấp chính quyền đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu, đồng thời triển khai các chương trình hành động nhằm ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu trên đảo Cát Bà.