CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm về khí hậu và biến đổi khí hậu 1. Định nghĩa về biến đổi khí hậu Theo IPCC (2007) [47], BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn.
Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu [2, 28]. Theo Liên Hợp Quốc, BĐKH được quy trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động của con người làm thay đổi nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, làm tăng hiệu ứng nhà kính gây ra BĐKH Trái Đất. Theo Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam, Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất.
Các khái niệm liên quan đến biến đổi khí hậu - Nước biển dâng là sự dâng cao mực nước đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm thủy triều, nước biển dâng do bão… Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác [4]. - Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ các tác hại do BĐKH. - Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc xã hội đối với hoàn cảnh hay môi tường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH và khai thác các cơ hội do nó mang lại. - Làm giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ tác động của khí hậu, thiên tai do BĐKH.
- Đánh giá tổn thương do BĐKH là nghiên cứu xác định các cộng đồng hoặc hoạt động kinh tế - xã hội có nguy cơ bị ảnh hưởng nhiều nhất hoặc có khả năng thích ứng kém nhất với tác động của BĐKH. Kết quả đánh giá tổn thương có thể là các bản đồ 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tổn thương chỉ ra các vùng sinh thái và dân cư có khả năng bị tổn thương cao khi tác động do BĐKH xảy ra. Nguyên nhân của biến đổi khí hậu 1. BĐKH do yếu tố tự nhiên - Thay đổi của các tham số quỹ đạo Trái Đất: do Trái Đất tự quay xung quanh trục của nó và quanh Mặt Trời, theo thời gian, một vài biến thiên theo chu kì đã diễn ra.
Các thay đổi về chuyển động của Trái Đất gồm: sự thay đổi của độ lệch tâm có chu kì dao động khoảng 96.000 năm; độ nghiêng trục có chu kỳ dao động khoảng 41. Những biến đổi chu kỳ năm của các tham số này làm thay đổi lượng bức xạ Mặt Trời cung cấp cho hệ thống khí hậu và do đó làm thay đổi khí hậu Trái Đất [28]. - Biến đổi trong phân bố lục địa - biển đổi của bề mặt Trái Đất: Bề mặt Trái Đất có thể bị biến dạng qua các thời kì địa chất do sự trôi dạt của các lục địa, các quá trình vận động kiến tạo, phun trào núi lửa… Sự biến dạng này làm thay đổi phân bố lục địa - đại dương, hình thái bề mặt Trái Đất, dẫn đến sự thay đổi phân bố bức xạ Mặt Trời trong cân bằng bức xạ, cân bằng nhiệt của mặt đất và trong hoàn lưu chung khí quyển, đại dương. Ngoài ra, các đại dương là một thành phần chính của hệ thống khí hậu, dòng hải lưu vận chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh.
Thay đổi trong lưu thông đại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2 vào khí quyển. - Sự biến đổi về phát xạ của Mặt Trời và hấp thụ bức xạ của Trái Đất: sự phát xạ của Mặt Trời đã có những thời kì yếu đi gây ra băng hà và có những thời kì hoạt động mãnh liệt gây ra khí hậu khô và nóng trên bề mặt Trái Đất. Ngoài ra, sự xuất hiện các vết đen Mặt Trời làm cho cường độ tia bức xạ Mặt Trời chiếu xuống Trái Đất thay đổi, năng lượng chiếu xuống mặt đất làm thay đổi nhiệt độ bề mặt Trái Đất. - Hoạt động của núi lửa: Khí và tro núi lửa có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong nhiều năm.
Bên cạnh đó, các sol khí do núi lửa phản chiếu bức xạ Mặt Trời trở lại vào không gian, và vì vậy làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt Trái Đất. Có thể thấy rằng nguyên nhân gây ra BĐKH do các yếu tố tự nhiên là biến đổi từ từ, có chu kỳ rất dài, vì thế, nếu có chỉ đóng góp rất nhỏ vào BĐKH trong giai đoạn hiện nay. Biến đổi khí hậu do tác động của con người - Hiệu ứng nhà kính: Hiệu ứng nhà kính được định nghĩa là hiệu quả giữ nhiệt ở tầng thấp của khí quyển nhờ sự hấp thụ và phát xạ trở lại bức xạ sóng dài từ mặt đất bởi mây và các khí như hơi nước, cácbon điôxit, nitơ ôxit, mê tan và chlorofluorocarbon, làm giảm lượng 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiệt thoát ra không trung từ hệ thống Trái Đất, giữ nhiệt một cách tự nhiên, duy trì nhiệt độ Trái Đất cao hơn khoảng 30oC so với không khí có các chất khí đó [49]. Các khí nhà kính trong bầu khí quyển gồm các khí nhà kính tự nhiên và các khí phát thải do các hoạt động của con người.
Trước hết, các khí nhà kính không hấp thụ bức xạ sóng ngắn của Mặt Trời chiếu xuống Trái Đất, nhưng hấp thụ bức xạ hồng ngoại của mặt đất thoát ra ngoài khoảng không vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị lạnh đi quá nhiều, nhất là về ban đêm khi không có bức xạ Mặt Trời chiếu tới mặt đất. - Hoạt động của con người và sự nóng lên toàn cầu BĐKH trong giai đoạn hiện tại là do các hoạt động của con người làm phát thải quá mức các khí nhà kính vào bầu khí quyển. Những hoạt động của con người đã tác động lớn đến hệ thống khí hậu, đặc biệt kể từ thời kì tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750). Theo IPCC, sự gia tăng khí nhà kính kể từ năm 1950 chủ yếu có nguồn gốc từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã phát thải vào khí quyển các khí gây hiệu ứng nhà kính, dẫn đến làm gia tăng nhiệt độ của Trái Đất.
Khái niệm về sinh kế 1. Quan niệm về sinh kế Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những năm 80 (sau đó được phát triển bởi Chamber, Conway và những người khác vào đầu những năm 1990). Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện [4, 11]. Một sinh kế gồm có những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống.
Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên [40]. Khái niệm về sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn. Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó. Chiến lược sinh kế là quá trình sinh ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ [47].
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Để duy trì sinh kế, mỗi hộ gia đình thường có các kế sách sinh nhai khác nhau. Chiến lược sinh kế của hộ là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ. Bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ [17]. Chiến lược sinh kế của hộ phải dựa vào năm loại nguồn lực (tài sản) cơ bản sau: - Nguồn nhân lực: Bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con người.
Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ. Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn. - Nguồn lực xã hội: Là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà con người đặt ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ. Chúng bao gồm uy tín của hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ.
- Nguồn lực tự nhiên: Là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của cộng đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng v. Trong thực tế, sinh kế của người dân thường bị tác động rất lớn bởi những biến động của nguồn lực tự nhiên. Trong các chương trình di dân tái định cư, việc di chuyển dân đã làm thay đổi nguồn lực tự nhiên của người dân và qua đó đã làm thay đổi sinh kế của họ [4, 10, 11]. - Nguồn lực vật chất: Bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin v.