phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Luận văn bao gồm các phần chính nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2. Thời gian, địa điểm và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu hoạt động nuôi trồng thủy sản trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Theo định nghĩa của FAO, NTTS là “Nuôi các sinh vật dƣới nƣớc nhƣ cá, nhuyễn thể, động vật giáp xác và thực vật thủy sinh”. NTTS đƣợc coi là ngành phát triển nhanh nhất của nền kinh tế lƣơng thực thế giới. Sự ra đời của NTTS đƣợc coi xuất phát từ nhu cầu thực tế của con ngƣời khi việc tìm kiếm thức ăn và săn bắn không đủ để cung cấp nguồn thức ăn ổn định cho cộng đồng địa phƣơng.
Khai thác và nuôi trồng thủy sản đóng vai trò quan trọng trong sinh kế, kinh tế và cung cấp chất dinh dƣỡng cho con ngƣời. Trên thế giới, sinh kế của 520 triệu ngƣời phụ thuộc vào nghề khai thác và nuôi trồng thuỷ sản [31] và có 98% ngƣời sống ở các nƣớc đang phát triển [48]. Phần lớn sự tăng trƣởng nghề khai thác thủy sản quy mô nhỏ là ở các nƣớc đang phát triển. Có thể nhiều ngƣời nghèo sẽ chuyển sang đánh bắt và các nguồn tài nguyên khác trong tƣơng lai do những tác động tiêu cực của BĐKH đối với nông nghiệp và các ngành khác.
Các loài thủy sản là loại thực phẩm đƣợc buôn bán rộng rãi nhất trên thế giới: 37% thủy sản đƣợc sản xuất (tƣơng đƣơng với trọng lƣợng tƣơi) đƣợc buôn bán quốc tế [31]. Trong năm 2006, xuất khẩu thủy sản đạt 85,9 tỷ USD, hơn một nửa trong số đó có nguồn gốc từ các nƣớc đang phát triển. Năm 2002, xuất khẩu thủy sản tạo ra thu nhập ngoại hối cao hơn cho các nƣớc đang phát triển so với gạo, cà phê, đƣờng và chè kết hợp [48]. Nguồn cung cấp protein cho 1/3 dân số thế giới dựa vào cá và các sản phẩm thủy sản khác, chiếm 20% nhu cầu protein [28].
Cá cung cấp hơn 50% lƣợng protein cho 400 triệu ngƣời nghèo trên thế giới [41] và cũng là nguồn cung cấp các chất dinh dƣỡng quan trọng khác nhƣ vitamin A, B và D, canxi, sắt và iốt [53]. Cá chiếm 30% protein động vật đƣợc tiêu thụ ở Châu Á, 20% ở Châu Phi và 10% ở Châu Mỹ La 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tinh và Caribe [44]. Do đó, các loài thủy sản là trung tâm của an ninh lƣơng thực của nhiều ngƣời nghèo trên thế giới, đặc biệt là ở các vùng ven biển và các quốc đảo nhỏ đang phát triển. NTTS trở thành một ngành công nghiệp tiềm năng vào giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ hai.
Một sự thay đổi trong điều kiện kinh tế ở các nƣớc phát triển trên thế giới đã dẫn đến sự tăng nhu cầu về thủy sản nhƣ cá hồi, giáp xác, cá chình…Trong những năm 1960, NTTS đã trở thành một ngành thƣơng mại ở châu Á với quy mô địa phƣơng nhỏ lẻ [39]. Theo FAO (2016), ngành thủy sản trên thế giới đang tăng trƣởng cả về quy mô sản lƣợng và khả năng tiêu thụ. Sản lƣợng thủy sản của thế giới tăng đều qua từng năm với mức tăng trung bình giai đoạn 2009-2014 là 2,3%, trong đó, tăng trƣởng nuôi trồng thủy sản là 6,1%, khai thác thủy sản có xu hƣớng chậm lại với 0,1%. Nguyên nhân do chính phủ các nƣớc khuyến khích hoạt động nuôi trồng thủy sản nhằm hƣớng tới sự phát triển bền vững bảo vệ môi trƣờng trong bối cảnh trữ lƣợng thủy sản tự nhiên của thế giới có hạn và có dấu hiệu suy giảm (Bảng 1.
Sản lƣợng thủy sản trên thế giới từ năm 2009 đến năm 2014 (ĐVT: triệu tấn) Năm 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Khai thác thủy sản 90,2 89,2 103,7 91,3 92,7 93,4 Nội địa 10,5 11,3 11,1 11,6 11,7 11,9 Biển 79,7 77,9 92,6 79,7 81 81,5 Nuôi trồng thủy sản 55,7 59 61,8 66,4 70,3 73,8 Nội địa 34,3 36,9 38,6 42 44,8 47,1 Biển 21,4 22,1 23,2 24,4 25,5 26,7 Tổng sản lƣợng thủy sản 145,9 148,2 165,5 157,7 163 167,2 (Nguồn: FAO, 2016)[33] Theo báo cáo tình hình nuôi trồng và khai thác thủy sản thế giới [33], trong năm 2016, sản lƣợng từ NTTS đạt 80 triệu tấn, cung cấp 53% tổng số cá tiêu thụ bởi con ngƣời làm thực phẩm. NTTS vẫn tiếp tục là một trong những ngành sản xuất thực phẩm tăng trƣởng nhanh nhất, dù tốc độ tăng trƣởng đang chậm lại, từ 5,3% trong thập kỷ trƣớc, dự báo xuống 2,3% trong giai đoạn 2017 - 2026 [34]. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo quy mô châu lục, mức độ tăng trƣởng NTTS ở châu Phi trong giai đoạn 2001-2015 trung bình là 10,4%, tiếp theo là châu Á với 6%, châu Mỹ là 5,7%, châu Đại Dƣơng và châu Âu tăng trƣởng lần lƣợt là 2,9% và 2,5% [34]. Xét về đối tƣợng thủy sản đƣợc nuôi trồng, cá chiếm khoảng 63-68% tổng lƣợng nuôi trồng, nhuyễn thể chiếm khoảng 30% vào đầu những năm 2000 nhƣng giảm xuống 21% vào năm 2015.
Ngƣợc lại, giáp xác tăng từ khoảng gần 5% lên thành gần 10% tổng sản lƣợng NTTS trong giai đoạn trên. Nhìn chung trên thế giới, NTTS đƣợc chia thành hai kiểu nuôi chính là NTTS trong nội địa và NTTS ven biển. Sản lƣợng theo từng đối tƣợng nuôi đƣợc trình bày trong bảng dƣới đây (Bảng 1. Sản lƣợng nuôi trồng thủy sản của các đối tƣợng nuôi chính trên thế giới năm 2015 (ĐVT: nghìn tấn) Châu NTTS nội Châu Châu Châu Á Châu Âu Đại Tổng số địa Phi Mỹ Dƣơng Cá 1.744 thể Loài khác 531 521.355 Châu NTTS ven Châu Châu Châu Á Châu Âu Đại Tổng số biển Phi Mỹ Dƣơng Cá 15.245 thể Loài khác 25 - 381.547 (Nguồn: FAO, 2017) [34] Theo FAO, tổng sản lƣợng NTTS ven biển có xu hƣớng tăng lên, đóng góp khoảng 25% tổng sản lƣợng NTTS, trong khi chỉ chiếm 13,8% vào năm 2000.
Đối 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với NTTS nội địa, tăng từ 68,6% vào năm 2000 lên 81% năm 2015.2 cũng chỉ ra rằng châu Á là khu vực có sản lƣợng NTTS lớn nhất. Bên cạnh đó, theo thống kê của FAO, Trung Quốc là quốc gia có sản lƣợng cá nuôi lớn nhất trong năm 2016, tiếp theo là Ấn Độ, In-đô-nê-si-a, Việt Nam, Băng-la- đét, Ai Cập và Na Uy. Tại Trung Quốc, theo nghiên cứu của [46], sản lƣợng NTTS của Trung Quốc luôn đứng đầu thế giới, trong đó NTTS nƣớc ngọt chiếm tới 90,8% sản lƣợng NTTS của quốc gia này. Năm tỉnh có sản lƣợng NTTS lớn nhất là Hồ Bắc, Quảng Đông, Giang Tô, Hồ Nam và Giang Tây.
Đối tƣợng nuôi chủ yếu bao gồm cá trắm cỏ, cá chép bạc, phổ biến cá chép, cá mè, cá chép, và cá rô phi. Xét về hình thức nuôi, khoảng 54,9% tổng sản lƣợng nuôi theo hình thức quảng canh [36]. Hình thức nuôi quảng canh phát triển khá mạnh ở Trung Quốc với loài hai mảnh vỏ. Năm 2014, Trung Quốc đã nuôi 12 triệu tấn hai mảnh vỏ chiếm hơn 25% tổng sản lƣợng NTTS của Trung Quốc và gấp năm lần số lƣợng hai mảnh vỏ đƣợc canh tác bởi phần còn lại của thế giới [33].
Mặc dù rất phát triển nhƣng NTTS tại Trung Quốc luôn phải đối mặt với những thiệt hại gia tăng từ thiên tai nhƣ bão, lũ lụt và nhiệt độ thấp. Ngoài ra, sự lây lan của bệnh, đặc biệt ở cá rô phi ảnh hƣởng đáng kể đến sản lƣợng nuôi trồng. Từ năm 2015, nhiều ngƣời nuôi tôm đã thất bại bởi một dịch bệnh lây lan rộng trong các đầm nuôi tôm. Thực tế, các cơ sở NTTS (cả nƣớc ngọt và nƣớc biển) đều có năng suất thấp hơn do thiên tai, nƣớc ô nhiễm, và tỷ lệ mắc bệnh cao hơn làm giảm sự tăng trƣởng và sản lƣợng NTTS [45].
Tại Ấn Độ, đây là quốc gia đứng thứ hai (sau Trung Quốc) về sản lƣợng đánh bắt và NTTS trên thế giới. Theo nghiên cứu của Kumar và Sujit (2016), tổng sản lƣợng NTTS trong giai đoạn 2012-2013 của Ấn Độ là 4,21 triệu tấn. NTTS nƣớc ngọt có sự tăng trƣởng vƣợt bậc, gấp 10 lần sau ba thập kỉ vừa qua, từ 0,37 triệu tấn năm 1980 lên 4,03 triệu tấn trong năm 2010 [40]. Theo FAO (2014), ba hợp phần NTTS tại Ấn Độ gồm có NTTS nƣớc ngọt, NTTS nƣớc lợ và NTTS nƣớc mặn.
Sản lƣợng NTTS nƣớc ngọt ở Ấn Độ chiếm gần 55% tổng sản lƣợng cá ở Ấn Độ. Khu vực NTTS nƣớc ngọt chủ yếu là các hồ, kênh mƣơng, hồ chứa và ruộng lúa và thƣờng đƣợc kết hợp với sản xuất tôm trong ao nƣớc lợ truyền thống. Đối tƣợng nuôi chủ yếu là các loài cá chép Ấn Độ, cá trôi Ấn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Độ đóng góp từ 70% đến 75% tổng sản lƣợng cá nƣớc ngọt, trong khi cá chép bạc, cá trắm cỏ và cá da trơn chiếm 25% đến 30% tổng sản lƣợng. Đối với NTTS nƣớc lợ, đối tƣợng nuôi chủ yếu là tôm.
Từ năm 1989 đến 2007, nuôi tôm đã tăng gấp năm lần lên đến 144. Ngoài nuôi tôm, NTTS nƣớc lợ tại Ấn Độ còn nuôi cá chẽm, cá da trơn và các loài nƣớc ngọt khác. Đối với khu vực ven biển, NTTS Ấn Độ tập trung vào sản xuất trai, hàu và rong biển. Tuy nhiên, việc nuôi trồng vẫn còn rất khiêm tốn và thƣờng dựa trên phƣơng thức truyền thống [32].
Tại In-đô-nê-si-a, quốc gia cũng có sự phát triển mạnh của NTTS. Trong đó, diện tích NTTS nƣớc lợ là 715.846 ha, chiếm 24,48% tổng diện tích của quốc gia này, diện tích NTTS nƣớc ngọt và vùng ven biển lần lƣợt là 320. Đối tƣợng nuôi chủ yếu ở In-đô-nê-si-a là tôm thẻ chân trắng, cá mú, cá rô phi và cá vƣợc. Trong đó, tôm tạo ra doanh thu cao nhất vởi khoảng 1,5 tỷ USD trong xuất khẩu vào năm 2011 và giá trị xuất khẩu tôm cũng tăng trƣởng nhanh nhất, tăng trƣởng 16,6% giai đoạn 2011 - 2014 [38].
Những thách thức của NTTS tại In-đô-nê-si-a là khá lớn. Quốc gia này vẫn còn trong giai đoạn đầu của sự phát triển về mặt phát triển NTTS, do đó khả năng tiếp cận những công nghệ cao cũng rất hạn chế. Tuy nhiên, vì Chính phủ đã chú trọng nhiều hơn vào việc phát triển ngành, nên có nhiều cơ hội cho các cơ hội trên. Ngoài ra, với khoảng 17.000 hòn đảo và đƣờng bờ biển dài khoảng 81.000 km, In-đô-nê-si-a phải hứng chịu những tác động rất lớn từ BĐKH và các hiện tƣợng thời tiết cực đoan, ảnh hƣởng tƣơng đối lớn đến sản lƣợng NTTS của quốc gia này.
Nhƣ vậy, NTTS trên toàn thế giới ngày càng phát triển với sản lƣợng ngày càng gia tăng, đặc biệt là khu vực châu Á.