Chương I: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 3. Chương II: Số liệu sử dụng và phương pháp nghiên cứu 4. Chương III: Kết quả nghiên cứu và nhận xét 5. Kết luận và kiến nghị 6.
Tài liệu tham khảo Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, nhiều vấn đề khoa học chưa được làm sáng tỏ là điều không tránh khỏi. Với cách tiếp cận nghiên cứu của luận văn, chúng tôi cố gắng đưa ra được những thông tin về điều kiện khô hạn khí tượng thông qua chỉ số SPI theo số liệu quan trắc và kịch bản lượng mưa của Bộ TNMT (2016). Nhìn chung, bài toán dự tính biến đổi điều kiện khô hạn trong bối cảnh BĐKH vẫn còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Do vậy, kết quả nghiên cứu của luận văn cũng gặp một số khó khăn trong việc kế thừa nghiên cứu trước đó.
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có nhứng đóng góp nhất định trong bước đầu nghiên cứu về điều kiện khô hạn trong bối cảnh BĐKH ở địa bàn tỉnh Phú Thọ. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN KHÔ HẠN 1. Điều kiện tự nhiên và khí hậu tỉnh Phú Thọ 1. Điều kiện tự nhiên tỉnh Phú Thọ Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, có vị trí nằm trong giới hạn từ 20,55 đến 21,43 vĩ độ bắc; 104,48 đến 105,27 kinh độ đông, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây bắc (vị trí địa lý này mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây - Đông Bắc), phía Đông giáp Hà Tây, phía Đông Bắc giáp Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Tây giáp Sơn La, phía Tây Bắc giáp Yên Bái, phía Nam giáp Hoà Bình.
Đặc điểm địa hình chủ đạo của tỉnh Phú Thọ là miền núi và trung du, nằm cuối dãy Hoàng Liên Sơn và là nơi chuyển tiếp giữa vùng núi vao và thấp. Do vậy, đặc điểm địa hình gây ra nhiều khó khăn cho các hoạt động sản xuất và giao thông. Tuy nhiên, Phú Thọ lại có nhiều tiềm năng để phát triển lâm nghiệp, giao thông thuỷ lợi, khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trang trại. Phú Thọ có nhiều hệ thống sông ngòi lớn chảy qua, chia cắt đất đai thành nhiều phần.
Các sông này có một ý nghĩa quan trọng trong hệ thống tưới tiêu của tỉnh. Những sông lớn này đều có những nét độc đáo riêng: - Sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào Cai, Yên Bái vào Phú Thọ ở khu vực xã Hậu Bổng, Hạ Hòa đến xã Hồng Đà, Tam Nông. Hệ thống sông này có tác dụng lưới tiêu rất lớn trong mùa ít mưa, và là nguồn cung cấp phù sa cho các bãi bồi ven sông khi mùa nước về. - Sông Đà: đi qua Phú Thọ tại xã Tinh Nhuệ, Thanh Sơn đến ngã ba Trung Hà thì hòa vào sông Hồng.
Nó là ranh giới giữa Phú Thọ và Hà Tây. Trong những năm gần đây, mực nước trên sông Đà đã được điều tiết bởi đập Hòa Bình, nên không còn gây nhiều nguy hiểm đến đời sống nhân dân trong mùa mưa bão. Đây đồng thời cũng là nguồn nước quan trọng phục vụ tưới tiêu và giao thông trên địa bàn tỉnh. - Sông Lô: Bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang vào Phú Thọ tại xã Chí Đám, Đoan Hùng nhập với sông Chảy tại Thọ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sơn và hợp lưu với sông Hồng tại Việt Trì.
Đây cũng được xem là con sông mang lại nhiều nguồn lợi về tưới tiêu và giao thông trên địa bàn tỉnh. - Ngoài những con sông lớn kể trên, Phú Thọ còn có hệ thống các sông nhánh và ngòi lao phong phú. Ngoài việc điều hòa không khí và cung cấp nguồn nước tưới tiêu, chúng cũng còn gây nguy hại nhiều trong mùa bão lũ cho nhân dân trên địa bàn tỉnh. Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Phú Thọ là 3.
Trong đó, theo hiện trạng sử dụng đất, đất nông nghiệp-Lâm nghiệm chiếm 54,8%. Hiện tại, đất tự nhiên chưa khai thác sử dụng là khoảng 81,2 nghìn ha (57,86 nghìn ha là đồi núi). Nhìn chung, đất đai và khí hậu ở tỉnh Phú Thọ phù hợp cho việc trồng cây nguyên liệu phục vụ cho các ngành công nghiệp chế biến lâm sản. Theo báo cáo mới nhất, hiện trạng che phủ rừng ở tình Phú Thọ là tương đối lớn, khoảng 42% là diện tích rừng tự nhiên.
Số liệu thống kê cho thấy, hiện nay Phú Thọ có 144.256 ha rừng, với 69.547 ha rừng tự nhiên và 74.704 ha rừng trồng. Bản đồ hành chính tỉnh Phú Thọ (Nguồn: http://bandohanhchinh.com/) 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc điểm khí hậu cơ bản của tỉnh Phú Thọ Hệ thống thời tiết - khí hậu nói chung ở khu vực phía bắc Việt Nam, trong đó có tỉnh Phú Thọ, có những nét tương đồng nhất định trong chế độ nhiệt ẩm với khí hậu cận nhiệt đới (hoặc á nhiệt đới). Thông qua nhiều công trình nghiên cứu đặc điểm khí hậu, kể cả khí hậu núi cao Việt Nam, các nhà khí tượng - khí hậu Việt Nam đã loại các tên gọi: “khí hậu nhiệt đới ẩm”, “khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh”, “khí hậu á nhiệt đới”,.
và thống nhất dùng khái niệm “khí hậu nhiệt đới gió mùa” thông qua sự phân tích, đánh giá nền nhiệt - ẩm và ảnh hưởng của gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hè. Nói chung, đại bộ phận của Phú Thọ có chế độ mưa nhiều và có mùa khô tương đối ngắn, nhiệt độ không khí có sự biến đổi mạnh mẽ trong năm và có một mùa đông lạnh do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và độ cao địa hình. Về độ ẩm, ở Phú Thọ duy trì một tình trạng ẩm ướt rất cao và là nơi tương đối có nhiều ngày sương mù, mưa phùn. Điều này một phần lý giải cho một chế độ bức xạ không dồi dào và ít nắng, nhiều mây ở đây.
Chế độ gió ở Phú Thọ phụ thuộc chặt chẽ vào hoàn lưu khu vực và yếu tố địa hình nên tương đối phức tạp về hướng, tốc độ gió không cao do đặc điểm thung lũng đem lại. Sau đây sẽ trình bày kỹ hơn về đặc điểm khí hậu tỉnh Phú Thọ thông qua phân bố theo thời gian và không gian của các yếu tố khí tượng như bức xạ, mây, nắng, nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, gió,. Nhiệt độ: Chế độ nhiệt ở Phú Thọ chịu sự chi phối của chế độ bức xạ mặt trời, hoàn lưu gió và địa hình. Do chênh lệch về độ cao nên nền nhiệt độ ở đây thấp hơn đồng bằng Bắc Bộ chút ít.
Nhiệt độ trung bình năm của Phú Thọ dao động từ dưới 180C đến trên 230C. Mức chênh lệch giữa nơi nóng nhất và lạnh nhất vượt xa các đặc trưng yếu tố khí hậu khác (theo nghĩa so sánh tỷ lệ giữa sự chênh lệch và độ lớn của bản thân yếu tố khí hậu). Đúng ra, nhiệt độ trung bình năm chỉ quan trắc được ở Phú Thọ từ 22,70C (Yên Lập) đến 23,50C (Việt Trì). Giá trị 180C được ước lượng theo quy luật nhiệt độ trung bình năm giảm theo độ cao địa hình với gradient vào khoảng 0,50C/100m.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, nhiệt độ không khí trung bình năm ở Phú Thọ đạt xấp xỉ và trên 230C ở vùng đồng bằng ven sông Hồng, sông Lô, sông Đà, giảm xuống 200C ở vùng núi chuyển tiếp giữa đồng bằng và khu vực núi cao, hầu hết diện tích phía Tây, Nam. Nhiệt độ trung bình năm giảm xuống dưới 180C ở một số đỉnh núi cao xấp xỉ và trên 1000m thuộc phía Tây huyện Thanh Sơn. Một điểm đáng lưu ý là hầu hết diện tích của thung lũng Minh Đài và các vùng thấp xen kẽ của Yên Lập có nền nhiệt độ khá cao so với các khu vực khác cùng độ cao thuộc Bắc Bộ và rất đặc trưng cho kiểu khí hậu thung lũng khuất gió. Nhiệt độ trung bình năm ở đây xấp xỉ và trên 220C.
Mƣa, ẩm, bốc hơi: Mùa mưa đích thực ở Phú Thọ kéo dài khoảng 6 tháng và do đó mùa ít mưa (ở Phú Thọ độ ẩm quanh năm tương đối cao nên ở đây không dùng khái niệm mùa khô) cũng kéo dài 6 tháng (từ tháng XI năm trước đến tháng IV năm sau). Lượng mưa mùa mưa so với lượng mưa năm ở các trạm đạt tỉ lệ từ 82 đến 86%, trong khi đó riêng 3 tháng mưa nhiều nhất (VI, VII, VIII) đã chiếm khoảng một nửa lượng mưa toàn năm ở Phú Thọ. Hàng năm ở Phú Thọ có từ 130 đến 190 ngày mưa[4]. Các tháng trong mùa mưa đều có số ngày mưa nhiều, từ 10-20 ngày/tháng.
Các tháng còn lại phần lớn mỗi tháng đều xấp xỉ 10 ngày mưa. Vào nửa cuối mùa đông, số ngày mưa tăng lên rõ rệt, thậm chí có nơi mưa phùn đã làm biến dạng biến trình năm của số ngày mưa, như Minh Đài, Yên Lập chẳng hạn, tháng có số ngày mưa trung bình cao nhất lại xảy ra vào tháng III, tháng IV với 17 ngày, ngang bằng với các tháng giữa mùa mưa. Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm ở Phú Thọ vào khoảng 84- 87%. Trong năm, thời kỳ khô nhất là vào tháng XI, XII – tháng đầu mùa đông khi khối không khí lạnh và khô chi phối chủ yếu thời tiết, khí hậu phía Bắc nước ta trong thời kỳ này.
Độ ẩm tương đối trung bình tháng trong thời kỳ này vào khoảng 81-86%. Thời kỳ ẩm ướt nhất trong năm là các tháng II, III và đôi khi là cả tháng IV, độ ẩm tương đối vào khoảng 86-89%. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nằm trong vùng khí hậu phía đông Bắc Bộ là nơi có chế độ bức xạ không dồi dào, tương đối ít nắng, nhiều mây nên nền nhiệt thấp (do có mùa đông lạnh), độ ẩm cao và vận tốc gió thuộc loại yếu so với các nơi khác của nước ta, do đó lượng bốc thoát hơi ở Phú Thọ thuộc vào loại thấp. Trong năm, lượng bốc hơi của các tháng giữa hè (tháng V, VI, VII, VIII) thường cao hơn cả, thường đạt 60-90mm/tháng.
Thời kỳ có lượng bốc hơi thấp nhất là tháng I, II với các giá trị vào khoảng 30-50mm/tháng vì đây là thời kỳ lạnh và ít nắng trong năm. Tổng quan các nghiên cứu về khô hạn do tác động của biến đổi khí hậu 1. Tổng quan về khô hạn a) Khái niệm về hạn hán Hiện nay, chưa có một định nghĩa thống nhất chung về hạn hán được đưa ra. Điều này là do, tính chất và tác động của của hạn hán ở các khu vực khác nhau trên thế giới là khác nhau.