Chương 1: Cơ sở hình thành sức mạnh mém văn hoá và ngoại giao van hoá Trung Quốc. Chương 2: Sự phát triển của ngoại giao văn hoá Trung Quốc nhằm nâng cao sức mạnh mềm văn hoá trong giai đoạn 2012 — 2022. Chương 3: Đánh giá vê triên vọng ngoại giao văn hoa đê nâng cao sức mạnh mềm văn hoá Trung Quốc trong tương lai. 18 CHUONG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH SỨC MẠNH MEM VĂN HOÁ VÀ NGOẠI GIAO VAN HOÁ TRUNG QUOC Trong chương này, Luận văn sé đi sâu làm rõ các van đề liên quan đến “sức mạnh mềm văn hoá” và “ngoại giao văn hoá”, tập trung lý giải câu hỏi: Trung Quốc phát triển sức mạnh mềm văn hoá của mình dựa trên những cơ sở nào? Bên cạnh đó sẽ đi vào phân tích những nhân tố môi trường từ trong nước và quốc tế tác động đến việc kiến tạo sức mạnh mềm văn hoá Trung Quốc thông qua kênh ngoại giao văn hoá trong giai đoạn 2012 — 2022.
Các khái niệm liên quan Dé có cái nhìn thông nhất trong quá trình phân tích vê “sức mạnh mêm văn hoa” va “ngoại giao văn hoá” Trung Quoc, tôi xin được làm rõ những khái niệm liên quan đên đôi tượng nghiên cứu của đê tài. Khái niệm văn hoá Van hoá là khái niệm mang nội hàm rộng liên quan đến mọi mặt đời song vật chất và tinh thần của con người. Mỗi ngành khoa học, mỗi trường phái nghiên cứu có những nhận định khác nhau về văn hoá. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhon đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hoá trong các công trình nghiên cứu của học giả thé giới.
Nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 — 1917) đã định nghĩa văn hoá như sau: “Văn hoá hay văn minh, hiểu theo đúng nghĩa rộng trong dân tộc học là một tông thé phức hợp gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán va một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một * Kroeber, Kuckhon. 19 thành viên của xã hội”. Theo định nghĩa này thì văn hoá và văn minh là một, bao gôm tat cả những lĩnh vực liên quan đên đời sông con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật. Theo khung thống kê văn hoá UNESCO 2009, khái niệm văn hoa được lây từ định nghĩa văn hoá trong Tuyên bố Toàn cầu về đa dạng văn hoá của UNESCO: “Văn hoá được coi là hệ thống các đặc điểm về tinh thần, vật chat, trí tuệ và cảm xúc của xã hội hay một nhóm người trong xã hội và văn hoá bao gồm nghệ thuật, văn học, phong cách sống, cách thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng” (UNESCO, 2001).
Định nghĩa về văn hoá này có liên hệ mật thiết với cách thức mà xã hội, một nhóm người ~LA: ^ Xr z : 2 x 2 ` 3 trong xã hội hay cộng đông xác định bản sac của minh. Như vậy, dù theo khuynh hướng nào, quan điểm nào, mọi định nghĩa về văn hoá đều thừa nhận và khăng định mối liên hệ mật thiết giữa văn hoá với con người. Trên cơ sở tham khảo các định nghĩa về văn hoá, tôi đã xác định được một khái niệm về văn hoá phù hợp với phạm vi nghiên cứu của đề tài. Cụ thé, văn hoá là hệ thong cac gia tri vat chat va tinh than do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
Như vậy, nói tới văn hoá tức là nói tới con người. Con người có khả năng sáng tạo văn hoá với tư cách là thành viên của xã hội, con người cũng chính là chủ thể tiếp thu văn hoá, bảo tồn cũng như truyền đạt văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó, văn hoá có mặt trong mọi hoạt động của con người, trên mọi lĩnh vực hoạt động thực tiễn và sinh hoạt tinh thân của xã hội. Với ý nghĩa này, tiép cận nghiên cứu ; E.Tylor (1871), Primitive Culture (Văn hóa nguyên thủy), Huyền Giang dịch, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội, 2000, tr13.
> “Khung thống kê văn hóa UNESCO 2009”.org/new/fileadmin/MULTIMEDIA/FIELD/Hanoi/images/Final%20FCS %20Vietnamese. pdf, truy cập ngày 14/4/2022. 20 sức mạnh mêm văn hoá va ngoại giao văn hoá của luận văn sẽ theo nghĩa rộng của khái niệm văn hoá. Khái niệm sức mạnh mêm Các học giả quốc tế đã đưa ra những quan điểm về sức mạnh mềm từ khá sớm.
Khởi nguồn cho những thảo luận này là ý kiến của học giả người Anh Edward Hallet Carr (1892 — 1982). Ngay từ thập niên 30 — 40 của thế kỷ XX, ông đã đưa ra nhận định, dé đạt tới mục đích chính tri thì sức mạnh quan điểm (powew over opnion) cũng đóng vai trò quan trọng không kém so với sức mạnh quân sự và kinh tế”. Quan điểm này được hình thành rõ nét hơn vào thập niên 70 của thế kỷ trước, theo Robert Jervis — Giáo sư khoa Quan hệ quốc tế, Đại hoc Columbia, Hoa Kỳ thì “hình ảnh quốc gia có thé có giá trị to lớn hơn nhiều so với sự gia tăng sức mạnh quân sự và kinh tế”. Sang đầu thập niên 90 thế kỷ XX, Joseph Samuel Nye, Jr (J.Nye)” mở rộng và phát triển trên ý tưởng của Edward Hallet Carr về mối quan hệ giữa sức mạnh quan điểm và sức mạnh quân sự, kinh tế để xác lập khái niệm sức mạnh mềm (soft power)’.
Khái niệm sức mạnh mềm được J. Nye nhắc đến lần đầu tiên trong cuốn sách có nhan dé Bound to Lead: The Changing Nature of American Power (ràng buộc dé dẫn dắt: bản chất đang thay đổi của sức mạnh Mỹ). Thuật ngữ này tiếp tục được ông phát triển và hoàn thiện trong nhiều *“ Xem Propaganda in International Politics, Oxford: Clarendon Press (1939) và The Twenty Years “ Crisis, 1919 — 1939: An Introduction to the Study of International Relations. 2nd, London: Macmillan (1946).
The Logic of Image in International Relations, Princeton, NJ: Princeton University Press, p. ŠTuy không phải học gia đầu tiên đề xuất khái niệm sức mạnh mềm, nhưng J. Nye lại là người đi tiên phong trong việc phân tích, hệ thống hóa và nâng các nghiên cứu về sức mạnh mêm lên hệ thống lý luận quan hệ quốc tế. Nye được coi là cha đẻ của khái niệm Sức mạnh mềm.
” Hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi trong giới học thuật về khái niệm “soft power” dịch là “sức mạnh mềm” hay “quyên lực mềm”. Khóa luận thống nhất sử dụng thuật ngữ “sức mạnh mềm” trong nghiên cứu Trung Quốc, bởi sức mạnh mềm muốn trở thành quyền lực mềm cần phải có điều kiện chuyên hóa nhất định và phải đạt đến tiêu chuẩn đánh giá nhất định. 21 nghiên cứu của mình sau đó. Trong cuốn sách Soft power — The means to success in the world politics (Sức mạnh mềm — Phương tiện để thành công trong chính trị quốc tế) xuất bản năm 2004, J.
Nye chỉ rõ: “Sức mạnh mềm có thể đạt được những điều họ muốn trong chính trị quốc tế do các nước khác tự nguyện mong muốn làm theo, ngưỡng mộ giá trị của quốc gia, muốn học theo tam gương đó, khát vọng đạt tới sự phon vinh va mở cửa như vậy”” và đưa ra định nghĩa: “Sức mạnh mềm là khả năng đạt được mục đích của mình thông qua sức hấp dẫn chứ không phải ép buộc hay mua chuộc. Sức hấp dẫn này đến từ văn hoá, tư tưởng chính trị và chính sách đối ngoại của một quốc gia”.” Tiếp đó, trong hai cuốn sách The power to lead (Quyén luc dé lãnh dao) xuất bản năm 2008, và The future of power (Tương lai của quyền lực) xuất bản năm 2011, J.Nye phát triển định nghĩa sức mạnh mềm một cách chỉ tiết hơn. Ông cho rằng sức mạnh mềm là “khả năng ảnh hưởng đến người khác thông qua các phương tiện chiêu dụ, gồm định khung nghị trình, thuyết phục, và khơi gợi hành vi thu hút, tích cực dé đạt được kết quả mong muốn”, Sức mạnh mềm được thực hiện thông qua sự hấp dẫn và thuyết phục. Từ những lý giải ban đầu của J.
Nye trong Soft power: The Means tu Success in World Politics, các nhà nghiên cứu quốc tế không ngừng hoàn thiện nhận thức và lý luận về khái niệm này. Có quan niệm rất rộng về sức mạnh mềm (ví dụ: khả năng đạt được điều mình muốn là không cần dùng “cây gậy đe doạ và củ cà rốt mua chuộc”) hoặc khá hẹp (ví dụ: sức hấp dẫn của văn hoa). Nếu như đa số các nhà nghiên cứu tập trung sự chú ý vào “nguồn” tạo ra sức mạnh mềm (What cause soft power) thì Alexander L. Vuving — Trung tâm nghiên cứu An ninh khu vực Châu Á-Thái Bình Dương APCSS — Mỹ nhắn mạnh đến k Joshep Nye (2004).
Soft Power: The means to success in the world politics, New York: Public Affairs, p. Soft Power: The means to success in the world politics, New York: Public Affairs, p. 19 oshep Nye (2011), The future of Power, New York: Public Affairs. 22 “cơ chế” dé tạo nên sức mạnh mềm (How soft power works)'".
Trong bài viết cùng tên năm 2009, giáo sư Vuving đã chi ra ba trạng thái quan trọng của sức mạnh mềm (Three currencies of soft power) gồm: sức mạnh hiền (Benigmty), sức mạnh giỏi (Brilliance) và sức mạnh đẹp (Beauty). Ba loại sức mạnh này gần giống với “ân”, “uy”, và “đức” trong thuật trị quốc bình thiên hạ trong lịch sử Trung Quốc ”. Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước, trong Luận văn này, tôi sử dụng khái niệm sức mạnh mềm theo hàm nghĩa sau: Sức mạnh mềm là sức hấp dẫn, thu phục, khả năng ảnh hưởng, lôi cuốn của một quốc gia đối với quốc gia khác bằng hệ giá trị, tư tưởng, văn hoá và chính sách thông qua các phương thức mang tính phi cưỡng chế trong quan hệ quốc tế. Khác với “sức mạnh cứng” là sự áp đặt, cưỡng bức, “sức mạnh mềm” là khơi gợi, thu hút, tự giác đi theo.
Tuy nhiên, mục đích nghiên cứu của Luận văn nhằm tìm hiểu các cơ chế kiến tạo sức mạnh mềm và hiệu ứng từ việc lan toả ảnh hưởng văn hoá của Trung Quốc. Sức mạnh mềm cũng có hiệu ứng “chuyển hoá” làm thay đổi suy nghĩ, thậm chi thay đổi ban sắc của đối tượng. Khái niệm sức mạnh mềm văn hoá Theo lý thuyết của J.