CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Chất ma túy Theo Luật phòng chống ma túy: Chất ma túy bao gồm chất gây nghiện và chất hướng thần, trong đó: - Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng. - Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
Nghiện ma tuý là một rối loạn mạn tính, tái diễn, được biểu hiện bằng hành vi bắt buộc phải tìm kiếm và sử dụng ma túy bất chấp những hậu quả bất lợi của việc sử dụng. Nghiện ma túy Theo quyết định 3140/QĐ-BYT ngày 30/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế, người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy và bị lệ thuộc vào các chất này [1]. Các triệu chứng của một người nghiện ma túy bao gồm: a) Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy buộc phải sử dụng ma tuý nhóm Opiat. b) Khó khăn trong việc kiểm tra thói quen sử dụng ma tuý nhóm Opiat như thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc liều lượng sử dụng.
c) Xuất hiện hội chứng cai ma tuý nhóm Opiat khi ngừng hoặc giảm đáng kể liều lượng ma tuý nhóm Opiat đang sử dụng hoặc phải dùng lại ma tuý nhóm Opiat để làm giảm nhẹ triệu chứng hoặc làm mất hội chứng cai ma tuý nhóm Opiat. d) Có khuynh hướng tăng liều để chấm dứt hậu quả do liều thấp gây ra. đ) Sao nhãng các thú vui, sở thích, công việc trước đây bằng việc tìm kiếm và sử dụng ma tuý nhóm Opiat. 4 e) Tiếp tục sử dụng ma tuý nhóm Opiat mặc dù biết tác hại, thậm chí đã có bằng chứng rõ ràng về tác hại của ma tuý nhóm Opiat đối với bản thân gia đình và xã hội.
Methadone và điều trị methadone Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự như các CDTP khác (đồng vận) nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là 24 giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để không xuất hiện hội chứng cai. Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài. Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone là một điều trị lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống, dưới dạng siro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, C, đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và tái hoà nhập cộng đồng [1]. Thực trạng sử dụng ma túy và hậu quả 1.
Thực trạng nghiện chích ma túy Theo Báo cáo về tình hình ma túy thế giới năm 2012 của UNODC, ước tính năm 2010 trên toàn cầu có 230 triệu người sử dụng ma túy, trong đó 27 triệu người có vấn đề nghiêm trọng do sử dụng ma túy; 200.000 người tử vong hàng năm do sử dụng heroin, cocain và các loại ma túy khác. Trong số, người tiêm chích ma túy khoảng 20% nhiễm HIV, 46,7% mắc viêm gan C và 14,6% mắc viêm gan B, tạo thêm gánh nặng về bệnh tật cho toàn cầu [4]. Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong năm 2014 số người nghiện ma túy đã tăng cao kỷ lục. Theo báo cáo được công bố, trong năm 2014 thế giới có gần 250 triệu người trong độ tuổi từ 15-64 sử dụng ít nhất là một loại ma túy [6].
Số người trên thế giới sử dụng các chất ma tuý ít nhất 1 lần trong năm 2016 là khoảng 275 triệu người, hay khoảng 5,6% dân số toàn cầu trong độ tuổi từ 15 đến 64. Báo cáo cho thấy rằng, việc sử dụng ma túy cao nhất trong số những người trẻ tuổi và trẻ từ 12 đến 17 tuổi có nguy cơ nghiêm trọng nhất [19]. Thang Long University Library 5 Tại Châu Á, khoảng 25% đến 40% người nghiện chất gây nghiện bất hợp pháp và 60% người nghiện các CDTP [34]. Tại Việt Nam tính đến ngày 15/11/2017 cả nước có 222.582 người NCMT có hồ sơ quản lý, điều trị bằng MMT đã được triển khai ở 63 tỉnh, thành phố trên cả nước với 294 CSĐT, 52.818 người bệnh [8].
Hậu quả của sử dụng ma túy Nghiện ma túy không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân, gia đình người nghiện mà còn ảnh hưởng lớn đến cộng đồng. Tác hại đối với cơ thể Sử dụng ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng không chỉ tới hệ thần kinh của người dùng, mà còn làm tổn hại tới rất nhiều cơ quan khác trên cơ thể. - Đối với hệ hô hấp: Các chất ma túy kích thích hô hấp gây tăng số lượng thở trong thời gian ngắn, sau đó sẽ gây ức chế hô hấp, nhất là khi dùng quá liều. Nhiều trường hợp ngưng thở nếu không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong, đôi khi ngưng thở rất đột ngột.
- Đối với hệ tim mạch: Các chất ma túy sẽ kích thích làm tăng nhịp tim, ảnh hưởng trực tiếp lên tim, gây co thắt mạch vành tạo nên cơn đau thắt ngực, nặng hơn có thể gây nhồi máu cơ tim. - Đối với hệ thần kinh: Ngoài tác dụng kích thích thần kinh giai đoạn đầu gây hưng phấn, sảng khoái, lệ thuộc thuốc…, cũng có thể gây các tai biến như: co giật, xuất huyết dưới nhện, đột quỵ. - Đối với hệ sinh dục: Người nghiện ma túy dẫn đến khả năng tình dục suy giảm, và vẫn kéo dài ngay cả khi ngưng dùng thuốc một thời gian khá lâu. Thậm chí, nếu nam giới dùng ma túy trong thời gian dài sẽ dẫn đến bất lực.
Còn ở phụ nữ sẽ bị rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, rong kinh, tăng tiết sữa bất thường và vô sinh. Tiêm chích ma tuý, dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng, dẫn đến lây nhiễm viêm gan vi rut B, C, đặc biệt là HIV. 6 Ảnh hưởng đến các mối quan hệ Ma tuý làm huỷ hoại sức khoẻ, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại. Nghiện ma túy dễ dẫn đến thoái hoá nhân cách, rối loạn hành vi, lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật.
Mất lòng tin với mọi người, dễ bị người khác lợi dụng, học tập giảm sút hoặc bỏ học, ảnh hưởng đến tương lai tiền đồ, nếu đã có việc làm thì dễ bị mất việc làm. Bên cạnh đó, người nghiện ma túy còn mâu thuẫn và bất hoà với bạn bè, thầy cô giáo và gia đình. Ma tuý còn gây tác hại lâu dài cho con cái, nòi giống: các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmon sinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt hoá, dẫn tới suy yếu nòi giống. Ảnh hưởng đến gia đình Người nghiện ma túy làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình.
Gây tổn thất về tình cảm. Gia đình tốn thời gian, chi phí chăm sóc và điều trị các bệnh của người nghiện do ma tuý gây ra. Ảnh hưởng đến xã hội Gây mất trật tự an toàn xã hội, gia tăng các tệ nạn xã hội: Lừa đảo, trộm cắp, giết người, mại dâm, băng nhóm. Ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc.
Làm giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội [5]. Ngoài những hậu quả cho bản thân và cộng đồng, sử dụng ma túy còn gây nên những gánh nặng về sức khỏe tâm thần. Ước tính khoảng 22,4% người sử dụng ma túy nhóm opiats ở Việt Nam bị trầm cảm [30]. Người nghiện chích ma túy bị cộng đồng kỳ thị, khó khăn tìm kiếm việc làm trong khi họ thường là trụ cột chăm sóc gia đình [28].
Chương trình giảm hại và chương trình methadone Can thiệp giảm hại đề cập đến các chính sách, chương trình và hoạt động nhằm mục đích giảm ảnh hưởng có hại về sức khỏe, xã hội và kinh tế của việc sử dụng các loại thuốc gây nghiện hợp pháp và bất hợp pháp. Các biện pháp can thiệp giảm hại giúp con người giảm thiểu được tác hại đến sức khỏe, phòng ngừa tử vong do quá liều và kết nối với các dịch vụ xã hội, y tế khác. Thang Long University Library 7 Có 9 nội dung, chương trình trong can thiệp giảm hại bao gồm: (1) Chương trình bơm kim tiêm; (2) Điều trị thay thế nghiện các dạng thuốc phiện nhóm opiat; (3) Tư vấn và xét nghiệm HIV; (4) Điều trị ARV; (5) Phòng ngừa và điều trị bệnh lây truyền qua đường tình dục; (6) Phân phát bao cao su; (7) Truyền thông, giáo dục, cung cấp thông tin cho người nghiện chích ma túy và bạn tình; (8) Phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị viêm gan; (9) Phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị lao. Can thiệp giảm hại mang lại hiệu quả trong phòng chống bệnh truyền nhiễm và cải thiện sức khỏe, làm giảm nguy cơ bệnh tật cho người nghiện chích ma túy và cộng đồng xã hội [3].
Chương trình methadone lần đầu tiên được đưa vào sử dụng tại Đức từ năm 1939, sử dụng với mục đích giảm đau trong Chiến tranh thế giới thứ 2. Năm 1964, tại New York, bác sỹ Maric Nyswnnder và Vincent Dole nghiên cứu về thuốc điều trị cho những người nghiện heroin, họ phát hiện ra MMT giúp người bệnh ngừng sử dụng heroin và hầu như không bị tăng liều khi dùng trong thời gian dài, do đó liệu pháp điều trị duy trì bằng thuốc methadone ra đời. Sau đó MMT lần lượt được đưa vào sử dụng tại các quốc gia như Mỹ (1965), Hồng Kông (1972), Hà Lan (1980), Australia (1993), Trung Quốc (2004), Malaysia (2005), Đài Loan (2006), Việt Nam (2008). Tính đến nay đã có hơn 80 quốc gia triển khai chương trình điều trị nghiện các dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế MMT.
Điều trị thay thế hay còn gọi là điều trị hỗ trợ bằng thuốc là việc sử dụng một loại thuốc tương tự nhưng gặp ít rủi ro hơn, kết hợp với liệu pháp tư vấn và hành vi để điều trị toàn diện cho người sử dụng ma tuý. Ước tính trên thế giới có khoảng 48,9 triệu người đang sử dụng các dạng thuốc phiện. Các nghiên cứu chỉ ra rằng khi điều trị rối loạn nghiện ma túy, sự kết hợp giữa thuốc và liệu pháp hành vi là biện pháp điều trị hiệu quả và thành công nhất. Điều trị thay thế triển khai ngoài cộng đồng tạo điều kiện về tâm lý, cho phép người bệnh có thể sinh hoạt cùng gia đình và hòa nhập với cộng đồng [3].