Sự Truyền Giáo Của Dòng Tên Ở Việt Nam Thế Kỷ XVII – XVIII

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sự truyền giáo của dòng tên ở việt nam thế kỷ xvii xviii, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Tôn Giáo Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2012

97
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Dòng Tên Thế Kỷ XVII XVIII Khám Phá Lịch Sử

Việc tìm hiểu về tôn giáo, đặc biệt là trong bối cảnh văn hóa, ngày càng được giới nghiên cứu hiện đại quan tâm. Tôn giáo không chỉ là một sản phẩm của văn hóa mà còn tác động ngược trở lại, làm đa dạng và sinh động bức tranh văn hóa của một quốc gia. Việt Nam, với sự đa dạng về tín ngưỡng và tôn giáo, là một ví dụ điển hình cho sự đan xen và dung hợp giữa các yếu tố bản địa và ngoại sinh. Nghiên cứu về Công giáo, một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, khi du nhập vào Việt Nam và bén rễ vào đời sống văn hóa, tinh thần người Việt, là vô cùng quan trọng. Đặc biệt, vai trò của các giáo sĩ Dòng Tên, những người tiên phong đem Tin mừng đến Việt Nam, cần được đánh giá một cách khách quan và toàn diện để thể hiện sự tôn trọng lịch sử và nguyên tắc khoa học. Tác giả luận văn lựa chọn đề tài: “Sự truyền giáo của Dòng Tên ở Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII” để làm rõ vấn đề này.

1.1. Bối cảnh Truyền Giáo Công Giáo Việt Nam Thế Kỷ XVII

Thế kỷ XVII đánh dấu giai đoạn quan trọng trong lịch sử truyền giáo Công giáo tại Việt Nam. Các giáo sĩ Dòng Tên đến từ Bồ Đào Nha đã đặt nền móng cho sự phát triển của đạo Công giáo trên mảnh đất này. Bối cảnh chính trị xã hội phức tạp với sự phân chia quyền lực giữa Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, tạo ra những thách thức và cơ hội riêng cho hoạt động truyền giáo. Sự hiện diện của các thương nhân châu Âu và ảnh hưởng của văn hóa phương Tây cũng góp phần vào quá trình này. Tình hình này đòi hỏi các giáo sĩ phải có sự linh hoạt và khéo léo trong việc tiếp cận và truyền bá đạo.

1.2. Vai Trò Quan Trọng của Dòng Tên trong Truyền Giáo

Dòng Tên Việt Nam đóng vai trò then chốt trong việc truyền bá Công giáo ở Việt Nam. Họ không chỉ là những nhà truyền giáo mà còn là những nhà ngôn ngữ học, nhà khoa học, nhà văn hóa. Các giáo sĩ Dòng Tên đã nỗ lực học tiếng Việt, tìm hiểu phong tục tập quán địa phương và sử dụng những phương pháp truyền giáo sáng tạo để tiếp cận người dân. Sự am hiểu văn hóa Việt Nam giúp họ xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với cộng đồng địa phương, góp phần làm cho đạo Công giáo được chấp nhận rộng rãi hơn. Alexandre de Rhodes là một trong những nhân vật tiêu biểu cho sự cống hiến này.

II. Chữ Quốc Ngữ và Dòng Tên Cách Mạng Văn Hóa Thế Kỷ XVII

Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Dòng Tên đối với văn hóa Việt Nam là sự hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ. Các giáo sĩ Dòng Tên, đặc biệt là Alexandre de Rhodes, đã có công hệ thống hóa và hoàn thiện chữ Quốc ngữ dựa trên bảng chữ cái Latinh, giúp việc truyền bá đạo Công giáo và giao lưu văn hóa trở nên dễ dàng hơn. Chữ Quốc ngữ không chỉ là phương tiện truyền giáo mà còn là công cụ quan trọng để bảo tồn và phát triển văn hóa Việt Nam. Sự ra đời của chữ Quốc ngữ đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử văn hóa Việt Nam.

2.1. Quá Trình Hình Thành và Phát Triển Chữ Quốc Ngữ

Quá trình hình thành chữ Quốc ngữ là một quá trình lâu dài và phức tạp, với sự tham gia của nhiều giáo sĩ Dòng Tên. Alexandre de Rhodes đã tổng hợp và hoàn thiện những công trình trước đó, biên soạn cuốn từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) vào năm 1651, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sự phát triển của chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ đã giúp cho việc truyền bá đạo Công giáo trở nên hiệu quả hơn, đồng thời mở ra cơ hội tiếp cận tri thức và văn hóa phương Tây cho người Việt.

2.2. Ảnh Hưởng Sâu Rộng của Chữ Quốc Ngữ Đến Văn Hóa Việt Nam

Chữ Quốc ngữ có ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa Việt Nam, giúp cho việc giáo dục và truyền bá kiến thức trở nên dễ dàng hơn. Nó cũng tạo điều kiện cho sự phát triển của văn học và báo chí Việt Nam, góp phần vào sự hình thành ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh giành độc lập. Chữ Quốc ngữ là một di sản văn hóa vô giá mà Dòng Tên đã để lại cho Việt Nam.

III. Hội Nhập Tín Ngưỡng Phương Pháp Truyền Giáo Dòng Tên Thế Kỷ XVII

Để thành công trong việc truyền giáo, Dòng Tên đã áp dụng phương pháp hội nhập tín ngưỡng, tức là tìm cách dung hòa giữa đạo Công giáo và các tín ngưỡng bản địa. Họ không cố gắng xóa bỏ hoàn toàn các phong tục tập quán truyền thống của người Việt mà tìm cách giải thích và diễn giải chúng theo quan điểm Công giáo. Phương pháp này giúp cho đạo Công giáo được chấp nhận dễ dàng hơn và tránh được những xung đột không cần thiết với cộng đồng địa phương. Đây là một chiến lược khôn ngoan và hiệu quả, thể hiện sự tôn trọng đối với văn hóa Việt Nam.

3.1. Dung Hòa Tín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên và Đạo Công Giáo

Vấn đề tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một thách thức lớn đối với các nhà truyền giáo. Dòng Tên đã tìm cách dung hòa tín ngưỡng này với đạo Công giáo bằng cách giải thích rằng việc thờ cúng tổ tiên không phải là thờ thần thánh mà là thể hiện lòng hiếu thảo và biết ơn đối với những người đã khuất. Họ cũng khuyến khích việc cầu nguyện cho linh hồn của tổ tiên và tổ chức các nghi lễ tưởng nhớ người đã khuất theo nghi thức Công giáo. Giải pháp này giúp cho người Việt có thể vừa giữ gìn truyền thống gia đình vừa theo đạo Công giáo.

3.2. Thích Ứng Văn Hóa Địa Phương để Truyền Bá Giáo Lý

Dòng Tên nhận thấy sự cần thiết phải thích ứng với văn hóa địa phương để truyền bá giáo lý một cách hiệu quả. Họ học tiếng Việt, tìm hiểu phong tục tập quán và sử dụng những hình ảnh, biểu tượng quen thuộc trong văn hóa Việt Nam để giải thích những khái niệm trừu tượng của đạo Công giáo. Ví dụ, họ sử dụng hình ảnh hoa sen, một biểu tượng của sự thanh khiết trong Phật giáo, để nói về Đức Mẹ Maria. Sự thích ứng văn hóa này giúp cho đạo Công giáo trở nên gần gũi và dễ hiểu hơn đối với người Việt.

IV. Truyền Bá Khoa Học và Giáo Dục Đóng Góp Dòng Tên Thế Kỷ XVIII

Ngoài hoạt động truyền giáo, Dòng Tên còn có những đóng góp đáng kể trong lĩnh vực khoa học và giáo dục ở Việt Nam. Họ mang đến những kiến thức mới về toán học, thiên văn học, địa lý và y học, giúp mở rộng tầm nhìn và nâng cao trình độ dân trí của người Việt. Các trường học do Dòng Tên thành lập đã đào tạo ra nhiều người tài giỏi, góp phần vào sự phát triển của đất nước. Sự truyền bá khoa học và giáo dục của Dòng Tên là một yếu tố quan trọng trong quá trình giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và phương Tây.

4.1. Mang Kiến Thức Khoa Học Phương Tây Đến Việt Nam

Dòng Tên đã giới thiệu những kiến thức khoa học phương Tây tiên tiến cho người Việt. Họ sử dụng các công cụ thiên văn học để quan sát bầu trời, lập bản đồ và tính toán lịch. Họ cũng chia sẻ những kiến thức về y học, giúp cải thiện sức khỏe cộng đồng. Những kiến thức này đã mở ra những chân trời mới cho người Việt và khuyến khích tinh thần học hỏi, khám phá.

4.2. Thành Lập và Phát Triển Hệ Thống Giáo Dục

Dòng Tên đã thành lập nhiều trường học ở Việt Nam, cung cấp chương trình giáo dục toàn diện cho học sinh. Các trường này không chỉ dạy về tôn giáo mà còn dạy về văn học, khoa học và nghệ thuật. Các giáo viên Dòng Tên là những người có trình độ cao và tận tâm với nghề. Hệ thống giáo dục do Dòng Tên xây dựng đã góp phần đào tạo ra nhiều người tài giỏi, có đóng góp lớn cho xã hội.

V. Ảnh Hưởng Văn Hóa Dòng Tên Kiến Trúc Nghệ Thuật Thế Kỷ XVIII

Sự hiện diện của Dòng Tên tại Việt Nam không chỉ tác động đến đời sống tôn giáo và tri thức mà còn để lại dấu ấn trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, đặc biệt là kiến trúc. Nhiều nhà thờ và công trình kiến trúc mang phong cách kiến trúc Baroque châu Âu đã được xây dựng dưới sự hướng dẫn hoặc ảnh hưởng của các giáo sĩ Dòng Tên, tạo nên sự giao thoa độc đáo giữa văn hóa phương Tây và phương Đông. Sự ảnh hưởng này cũng lan tỏa đến các lĩnh vực nghệ thuật khác như hội họa, điêu khắc, âm nhạc, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam.

5.1. Kiến Trúc Nhà Thờ Mang Phong Cách Baroque Châu Âu

Các nhà thờ do Dòng Tên xây dựng thường mang phong cách kiến trúc Baroque châu Âu, với những đường nét hoa mỹ, tinh xảo và sử dụng nhiều họa tiết trang trí. Tuy nhiên, các kiến trúc sư cũng khéo léo kết hợp những yếu tố kiến trúc truyền thống của Việt Nam, tạo nên sự hài hòa và độc đáo. Những nhà thờ này không chỉ là nơi thờ phượng mà còn là những công trình nghệ thuật, thể hiện sự giao thoa văn hóa giữa Việt Nam và phương Tây.

5.2. Phát Triển Nghệ Thuật Hội Họa và Điêu Khắc

Dòng Tên cũng có đóng góp vào sự phát triển của nghệ thuật hội họa và điêu khắc ở Việt Nam. Họ mang đến những kỹ thuật và phong cách mới từ châu Âu, đồng thời khuyến khích các nghệ sĩ Việt Nam sáng tạo những tác phẩm mang đậm bản sắc dân tộc. Nhiều bức tranh và tượng điêu khắc tôn giáo đã được tạo ra, thể hiện sự kết hợp giữa yếu tố phương Tây và phương Đông.

VI. Kết Luận Di Sản Dòng Tên và Bài Học Lịch Sử Thế Kỷ XVIII

Sự truyền giáo của Dòng Tên tại Việt Nam trong thế kỷ XVII-XVIII là một giai đoạn lịch sử quan trọng, để lại nhiều di sản văn hóa và bài học quý giá. Dòng Tên không chỉ truyền bá đạo Công giáo mà còn có những đóng góp đáng kể trong lĩnh vực ngôn ngữ, giáo dục, khoa học và nghệ thuật. Tuy nhiên, những hoạt động của họ cũng gặp phải những khó khăn và thách thức, phản ánh sự phức tạp của mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa, giữa phương Tây và phương Đông. Việc nghiên cứu về Dòng Tên giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa Việt Nam, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm cho hiện tại và tương lai.

6.1. Đánh Giá Khách Quan về Đóng Góp và Hạn Chế của Dòng Tên

Cần có một đánh giá khách quan và toàn diện về những đóng góp và hạn chế của Dòng Tên. Những đóng góp của họ trong việc phát triển chữ Quốc ngữ, truyền bá khoa học và giáo dục là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận những hạn chế trong phương pháp truyền giáo và những xung đột văn hóa mà họ gây ra. Một cái nhìn cân bằng sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vai trò của Dòng Tên trong lịch sử Việt Nam.

6.2. Bài Học về Giao Lưu Văn Hóa và Tôn Giáo trong Bối Cảnh Hiện Nay

Lịch sử truyền giáo của Dòng Tên mang đến những bài học quý giá về giao lưu văn hóa và tôn giáo trong bối cảnh hiện nay. Sự tôn trọng văn hóa bản địa, sự linh hoạt trong phương pháp tiếp cận và sự hợp tác giữa các nền văn minh là những yếu tố quan trọng để xây dựng một thế giới hòa bình và thịnh vượng. Việc nghiên cứu về Dòng Tên giúp chúng ta có thêm những góc nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa Việt Nam và thế giới.

28/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục. Phần nội dung gồm 2 chƣơng và 6 tiết.XVIII TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.XVIII NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DÒNG TÊN VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM 1.1 Khái quát về Công giáo và dòng Tên Công giáo (Kitô giáo, Cơ Đốc giáo) là một tôn giáo độc thần ra đời từ khoảng đầu Công nguyên ở Palestin – vùng đất phía đông đế quốc La Mã, nơi tiếp giáp giữa ba châu Á, Phi, Âu – do một nhân vật lịch sử có thật Giê- su Kitô (Jesus Christ) sáng lập. Ở La Mã thời tiền Công giáo, tình hình tín ngƣỡng tôn giáo cũng đã có một diện mạo đa sắc màu, nhiều tôn giáo tín ngƣỡng đan xen tồn tại, phản ánh một tầng diện của văn hóa Hy Lạp vốn chi phối toàn khu vực đế quốc La Mã mà điển hình của văn hóa Hy Lạp cổ đại là tín ngƣỡng thờ đa thần. Đối tƣợng thờ tín của văn hóa Hy Lạp đã đi vào thần thoại nhƣ thần Dớt, thần chiến tranh, thần sắc đẹp, thần lửa, thần rƣợu, thần tình ái… Trong văn hóa Hy Lạp, mỗi mặt nhu cầu của cuộc sống con ngƣời đều do một vị thần chi phối.

Khi xã hội còn ở giai đoạn nguyên thủy, tiền giai cấp, những vị thần đó tô điểm và làm giàu cho đời sống tinh thần của con ngƣời. Tuy nhiên, khi xã hội đã phân chia giai cấp và mâu thuẫn giữa nô lệ và chủ nô trở nên ngày càng sâu sắc, hiện thực đau khổ của những ngƣời nô lệ cho thấy sự “bất lực” của những vị thần. Khi mà những nhu cầu tối thiểu của họ cũng bị vùi dập, niềm tin đối với những vị thần cũ trở nên lung lay, ngƣời nô lệ mong muốn có một vị thần toàn năng, có thể cứu vớt cuộc đời họ khỏi những bế tắc đang gặp phải. Từ chỗ đa thần, tôn giáo có xu hƣớng chuyển sang độc thần, tôn giáo phải có một hệ thống giáo lý sâu sắc đi kèm mới đủ sức thuyết phục.

Một tôn giáo độc thần với hệ thống quan điểm, lập luận chặt chẽ về giáo thuyết thực tế đã có mặt ở La Mã thời kì này, phổ biến trong cộng đồng ngƣời Do Thái, đó chính là tôn giáo mang cùng cái tên của dân tộc này. Do Thái giáo lấy Cựu Ƣớc làm nền tảng và gọi là Kinh Thánh, đề cao 7 (LUAN.XVIII TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.XVIII đức tin vào thƣợng đế đƣợc gọi là Thiên Chúa. Tuy là tôn giáo độc thần với nội dung giáo thuyết rất hấp dẫn, song Do Thái giáo lại không thể phổ biến trong toàn cộng đồng các dân tộc ở La Mã do chỗ một mặt, tôn giáo này nặng tính bảo thủ về vấn đề dân tộc, hầu nhƣ chỉ gói gọn trong phạm vi những ngƣời Do Thái, mặt khác, Do Thái giáo đề cao đức tin nhƣng lại không có cơ quan trung ƣơng tôn giáo điều khiển, không hình thành cơ cấu phẩm trật một cách chặt chẽ, ngƣời diễn giảng Kinh Thánh, dẫn dắt đức tin cho tín đồ chỉ là các thầy giảng (Rabbi). Những diễn giảng đó, vì nguyên nhân này khác, rất dễ nảy sinh khác biệt giữa Rabbi này và Rabbi khác mà họ không chấp nhận lẫn nhau, và gọi những ngƣời theo quan điểm khác mình là những ngƣời lạc giáo, từ đó hình thành các giáo phái khác nhau trong nội bộ Do Thái giáo, gây nên sự phân rẽ.

Chẳng hạn, một số giáo phái đáng chú ý có phái Xaducai (The Sadducess), phái Farixai (The Pharisees), Đảng Nhuệ Khí hay còn gọi là phái Cohiarat (The Zealots), phái Aixaini hay “phái thành kính”(The Essenes),… Công giáo có khả năng phát sinh từ phái Aixaini [Dẫn theo 38, tr. Nhƣ vậy, Do Thái giáo chƣa đủ để đáp ứng nhu cầu giải phóng về mặt tinh thần của ngƣời dân La Mã bị áp bức, nên họ rất cần đến một tôn giáo gần gũi hơn, phổ biến hơn. Công giáo khi mới ra đời là tôn giáo của tầng lớp nô lệ, những ngƣời bị áp bức, những ngƣời đấu tranh chống giai cấp thống trị La Mã. Tính chất nổi bật của Công giáo là tƣ tƣởng về sự tự do, bình đẳng, tình yêu thƣơng.

Giáo lý của tôn giáo này là sự nối tiếp tƣ tƣởng của Do Thái giáo. Những luận thuyết về sự sáng thế, về hạnh phúc và khổ đau, về thiên đƣờng và địa ngục, về Đấng Cứu Thế, về ngày phán xét cuối cùng, sự cứu rỗi… đã hấp dẫn những ngƣời nô lệ đang bế tắc trƣớc cuộc sống. Buổi đầu, giai cấp thống trị tìm mọi cách bức hại và đàn áp Công giáo. Ngƣời sáng lập là Giesu chịu án tử hình đóng đinh trên thập giá, những môn đồ đầu tiên cũng bị bức hại.

Song, khó khăn và bức hại giống nhƣ lửa thử vàng, tôn giáo này không những không bị tiêu diệt, mà còn ngày một lan rộng trong đế quốc 8 (LUAN.XVIII TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.XVIII La Mã, Giesu trở thành một hình tƣợng lý tƣởng trong lòng tín đồ, ông đƣợc coi nhƣ con Thiên Chúa, đƣợc tôn vinh và gán cho nhiều huyền thoại về thần tính linh thiêng. Sau một thời gian cấm cách Công giáo, nhà cầm quyền của đế quốc La Mã đã thay đổi thái độ khi nhận thấy trong hệ thống giáo lý của tôn giáo này, những điều có lợi cho họ và yếu tố ru ngủ quần chúng, tuyên truyền cho những điều đó, và dần dần biến tôn giáo này thành công cụ trong tay giai cấp thống trị. Công giáo từ chỗ là tôn giáo của một bộ phận dân cƣ, trở thành quốc giáo của đế chế La Mã, và tiếp tục phát triển ngày càng mạnh mẽ, đỉnh cao là thời kì Trung Cổ sau này, gắn liền với chế độ phong kiến. Theo quy luật, quá trình phát triển một tôn giáo bất kì luôn dẫn tới sự phân rẽ trong tôn giáo đó.

Kitô giáo không nằm ngoài quy luật này. Danh từ Công giáo (Catholicism) là tên gọi của nhánh gốc của Kitô giáo tồn tại cho tới ngày nay, sau những lần Kitô giáo phân ly hình thành giáo phái độc lập khác là Chính Thống giáo (Orthodox) vào thế kỉ XI, Tin Lành giáo (hay Thệ Phản giáo, Protestantism) cùng với Anh giáo thế kỉ thứ XVI. Nếu nhƣ trong buổi sơ kì, các tín đồ đạo Kitô cùng sinh hoạt tôn giáo với nhau một cách tập trung và thống nhất, thì với việc hình thành dòng tu, mối quan hệ nội bộ dòng và quan hệ với dòng khác lại có sự độc lập nhất định. Nó bị giới hạn bởi những quy định của từng dòng tu biểu hiện trong việc tuyên thề, tu trì trong môi trƣờng tách biệt với bên ngoài, và việc vĩnh cƣ, không bao giờ sang dòng khác.

Việc phân chia dòng có nhiều cách: Dòng quốc tế hay dòng địa phƣơng, dòng tu kín hay dòng truyền giáo (sống đời sống tông đồ)… Hình thành các dòng tu là đòi hỏi của sự phát triển nội tại của Công giáo, trong đó sự hình thành dòng Tên phản ánh một phần lịch sử phát triển Công giáo trong bối cảnh chống cuộc cải cách tôn giáo hồi thế kỉ XVI của giáo hội. Dòng Tên (The society of Jesus) là cách gọi của ngƣời Việt Nam để chỉ một dòng tu của Công giáo lấy tên Đức Chúa làm tên dòng do thói quen kiêng kị của ngƣời Việt, tránh gọi tên những ngƣời tôn kính. Dòng Tên là 9 (LUAN.XVIII TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.XVIII một giáo đoàn quốc tế bao gồm những tu sỹ từ bỏ cuộc sống trần tục để phục vụ cho việc sống đạo, đời sống tông đồ, hoạt động chủ yếu là mở mang nƣớc Chúa, mời gọi ngƣời tân tòng, mở các giáo điểm mới. Dòng Tên hình thành là một hiện tƣợng lịch sử mang tính tất yếu, nó là kết quả của sự kết hợp giữa những yêu cầu của điều kiện thực tiễn cơ sở hạ tầng xã hội với vai trò của chủ thể sáng lập dòng.

Yêu cầu khách quan của lịch sử dẫn tới sự hình thành dòng Tên là sự xuất hiện và phát triển của chủ nghĩa tƣ bản trong thời kì Cận Đại ở Tây Âu đƣa tới những hệ quả về mặt hệ tƣ tƣởng và tôn giáo, cụ thể là một tôn giáo mới ra đời – Tin Lành giáo, đe doạ đến địa vị và lợi ích của giáo hội. Để bảo vệ lợi ích của mình, giáo hội đƣa ra những biện pháp thực tế để chống lại mối đe doạ đó. Cùng lúc với bối cảnh khách quan nhƣ vậy, nhân tố chủ quan dẫn tới sự hình thành dòng Tên là vai trò tích cực của Ignace de Loyola (I-nhã) cùng những ngƣời bạn của mình sáng lập dòng Tên và tích cực tác động để giáo hoàng phê chuẩn. Trƣớc hết, nói về sự đổi thay về mặt cơ sở kinh tế xã hội tạo nên bối cảnh ra đời của dòng Tên phải kể đến bƣớc chuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội Tƣ bản chủ nghĩa ở Tây Âu.

Thời kì phong kiến Trung cổ, tƣ tƣởng thần học của giáo hội bao trùm toàn bộ đời sống vật chất cũng nhƣ tinh thần trong xã hội. Về kinh tế, tài chính: Giáo hội đƣợc vua chúa phong kiến dâng cúng nhiều ruộng đất, đƣợc quyền thu thuế. Giáo hội đại diện cho pháp luật, chính trị, là công cụ thống trị về mặt tinh thần quần chúng, thần quyền lấn át thế quyền. Đánh giá vị trí của tầng lớp tăng lữ trong thời trung cổ, trong tác phẩm Chiến tranh nông dân ở Đức, Ăngghen viết: “Giới tăng lữ cũng chia thành hai cấp hoàn toàn khác nhau.

Hệ tôn ti của giáo hội phong kiến hình thành nên giai cấp quý tộc: Giám mục và tổng giám mục, trƣởng tu viện, giáo chủ và các giáo chức cao cấp khác. Các giáo chức cao cấp đó của giáo hội đều hoặc giả tự mình là những vƣơng công của đế chế, hoặc giả là những chúa phong kiến phục tùng chính quyền tối cao của những vƣơng công khác và chiếm hữu những vùng đất đai rộng lớn có 10 (LUAN.XVIII TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.XVIII nhiều nông nô và dân cƣ lệ thuộc” [3; tr. Rõ ràng là dƣới chế độ phong kiến, Công giáo có vị trí tối cao trong đời sống xã hội, nhà thờ đứng trên nhà nƣớc, đây là thời kì hoàng kim của Công giáo. Tuy nhiên, từ thế kỉ XIV trở đi, cùng với sự khủng hoảng xã hội phong kiến Tây Âu, giáo hội mất đi vị thế tối cao, bắt đầu bƣớc vào thời kì suy thoái, quần chúng bất bình và mất niềm tin.

Nền móng của chế độ phong kiến dần dần bị rạn nứt trƣớc sự phát triển của sản xuất, sự phát triển mạnh mẽ của thành thị, giai cấp tƣ sản ra đời, quan hệ tƣ bản chủ nghĩa thay thế dần quan hệ phong kiến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ