Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 6 Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những công trình nghiên cứu về sử dụng tình huống trong dạy học * Công trình nghiên cứu của nước ngoài Sử dụng tình huống và phương pháp dạy học tình huống đã được vận dụng khá lâu trong lịch sử. Ở phương Đông, phương pháp tình huống đã được nhắc nhiều trong các kinh sách, văn học cổ của một số triều đại Trung Quốc.
Trong đó, phải kể đến nhà giáo dục học vĩ đại Khổng Tử (551 - 487 TCN). Trong tác phẩm “Kinh dịch” (tạm dịch là “Đạo của người quân tử”) đã chỉ ra 64 cách xử lý tình huống lớn (quẻ kép) gắn với các trường phái, ngành nghề khác nhau. Ở phương Tây, nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã phân tích và nêu bật vai trò của PPTH và SDTH trong Giáo dục và đào tạo. Cụ thể: Năm 1870, giáo sư Christopher Columbus Langdell người đưa ra SDTH và PPTH đại trà trong dạy học cho khoa Luật của Trường Đại học Kinh doanh Havard, sau đó SDTH đã được nhà trường đồng ý và coi đó như một trong những PPDH chủ đạo của nhà trường.
Vào năm 1919 ở Trường Đại học Western Ontario của Canada cũng đã bắt đầu áp dụng PPTH trong dạy học Kinh doanh nhờ sự dẫn đầu của Giáo sư W. Sherwood Fox - Trưởng khoa Cơ bản, và K.R Neville - Trưởng phòng Giáo dục. Đến nay, Trường Kinh doanh Richard Ille của Đại học Western Ontarino là trường có uy tín lớn nhất tại Canada trong việc sử dụng PPTH vào trong quá trình giảng dạy. Ở Anh 1986, nhà nghiên cứu Bromley D.B với công trình: “Phương pháp nghiên cứu tình huống trong Tâm lý học và các ngành liên quan”, cũng bàn đến tính năng, vai trò của PPTH trong Tâm lý học và nhiều ngành khoa học XH.
Trên 7 cơ sở đó, nhiều nhà GD đã vận dụng PPTH một cách phổ biến tại các cơ sở GD ở nước này. Ở tại đất nước Pháp, khoảng đầu thế kỉ XX, PPTH cũng đã được sử dụng tương đối nhiều, nhưng tình huống đưa ra khi ấy chủ yếu là TH giả định nên chưa có tính thuyết phục cao. Năm 1960, Giáo sư Gaston De Vilard làm nên một giáo trình luân lí với nội dung là những TH có thật, trong đó GV xác định một số VĐ lí thuyết ngắn gọn, nêu TH cụ thể cho HS tranh luận với nhau, cuối cùng thầy là người đưa ra kết luận. PP này đã làm lay động và để lại tiếng vang trên toàn nước Pháp, sau đó được đưa vào nghiên cứu, vận dụng trong nhiều ngành học khác nhau.
Ngoài ra, PPTH cũng được tương đối nhiều nhà khoa học Liên Xô (cũ) và Ba Lan đặc biệt chú ý. Nhìn chung, hướng nghiên cứu SDTH ở các quốc gia này chủ yếu đi sâu vào việc xây dựng mối quan hệ qua lại giữa GV và HS, trong đó TH được sử dụng không chỉ đơn thuần là những TH có thật trong thực tế mà còn bao gồm cả những TH điển hình. Bên cạnh đó, còn một số các công trình khác đề cập đến PPTH như: Hai tác giả: Pigors Paulvà Faith Pigors với: “Phương pháp tình huống trong quan hệ xã hội: Quy trình sự cố”, McGraw- Hill, New York, NY, 1961. Stenhouse: “Phương pháp nghiên cứu tình huống”, trong John P.), Nghiên cứu Giáo dục, Phương pháp và Đo lường: Cẩm nang Quốc tế, Báo chí Pergamon, Oxford, Anh, 1988, tr.
Nhìn chung, về tổng quan thì những công trình nêu trên đã đưa ra đầy đủ những lí luận bao quát nhất về SDTH như: định nghĩa; ưu, nhược điểm; cách tiến hành tổ chức, những VĐ được đưa ra của áp dụng PPTH trong giảng dạy. Điều này có một ý nghĩa hết sức quan trọng để tác giả có thể vận dụng trong thực tiễn nghiên cứu của mình. 8 * Những công trình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, VĐ đổi mới PPDH nói chung, SDTH trong dạy học nói riêng đã được nhiều tổ chức, nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, có thể viện dẫn một số công trình sau đây: Nhà nghiên cứu Trần Văn Hà là một trong nhiều nhà khoa học có đóng góp lớn vào việc đổi mới PPDH nói chung, sử dụng linh hoạt PPTH nói riêng vào dạy học. Từ năm 1947, ông đã công bố nhiều bài viết về sử dụng PPTH.
Năm 2001, nhà nghiên cứu Trần Văn Hà đã đồng hành với tác giả Nguyễn Khánh Quắc viết cuốn “Tiếp cận nền kinh tế tri thức thế kỉ XXI, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp xử lý tình huống - động, dạy học - nghiên cứu - quản lý - lãnh đạo”. Ở đây, hai nhà khoa học đã phân tích một cách toàn diện tính ưu việt của SDTH trong dạy học. Hơn thế nữa, theo tác giả thì quy trình xử lí TH cần phải được tiến hành qua 4 giai đoạn và 7 bước thực hiện giải quyết VĐ đưa ra, bao gồm: việc lựa chọn TH; tiếp theo là giới thiệu TH; phân tích TH; tổ chức thảo luận giữa người học; lựa chọn phương án giải quyết TH; trình bày phương án giải quyết TH của các nhóm và bước cuối cùng là chốt lại kiến thức cần phải thảo luận. Có thể cho rằng, đây là quy trình SDTH trong dạy học để GV có thể vận dụng vào các nội dung môn học khác nhau [15].
Tác giả Bùi Văn Ngà (2000), “Dạy học tình huống và phương pháp dạy học trong bộ môn Giáo dục học”, Kỷ yếu Hội nghị cải tiến dạy học ở đại học, khoa Sư phạm Đại học Cần Thơ cũng khái quát về cơ sở lý luận của dạy học TH cho thấy những ưu điểm khi sử dụng PP này trong dạy học. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ bàn đến việc sử dụng PPDH này trong dạy học môn Giáo dục học ở các trường Đại học và Cao đẳng, chưa đưa ra việc sử dụng của PPTH trong dạy học ở bậc phổ thông [22; tr. Tác giả Nguyễn Hữu Lam (2004), Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright đã nêu ra quan niệm về TH và phương pháp SDTH. Đồng thời, tác giả cũng khẳng định trong giảng dạy kinh tế, việc SDTH vào dạy học sẽ giúp người 9 học phát triển được NL tư duy sáng tạo và biết giải quyết các VĐ kinh tế gắn với thực tiễn một cách có hiệu quả.
Trong công trình nghiên cứu “Các phương pháp dạy học tích cực” của tác giả Trịnh Văn Biều (2010), Nxb Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm, đặc trưng của PPTH. Ngoài ra còn nhiều công trình của các tác giả khác trong nước cũng đã đề cập đến cách thức tổ chức, ưu nhươc điểm, quy trình thực hiện, những yêu cầu và lưu ý trong SDTH vào dạy học gắn với các lĩnh vực CM như các tác giả: Nguyễn Trung Kiên (2013), vận dụng PP dạy học tình huống ở trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định, Tạp chí giáo dục số 323 (tháng 12/2013), [tr. Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách Giáo khoa, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội. Kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước đã cung cấp nhiều dữ liệu quan trọng và là căn cứ lý luận vô cùng cần thiết, giúp tác giả xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
Những công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học Giáo dục công dân và sử dụng tình huống trong dạy học môn Giáo dục công dân Bên cạnh các công trình, các bài viết nghiên cứu về PPTH và SDTH trong dạy học nói chung, cũng có nhiều công trình đề cập đến PP dạy học GDCD và SDTH trong tổ chức dạy học môn GDCD nói riêng. Cụ thể: Công trình: “Đổi mới phương pháp dạy học môn giáo dục công dân” của tác giả Lưu Thị Thuỷ - Nxb Giáo Dục (2009) cũng đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận chung về đổi mới PPDH môn GDCD và các biện pháp về đổi mới PP dạy học GDCD, trong đó có đề cập và phân tích việc đổi mới PPTH nói riêng ở các trường Trung học phổ thông hiện nay. Tác giả Vũ Đình Bảy với ấn phẩm “Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005, cũng đã có những kiến giải về tổ chức dạy học GDCD nói chung, về vận dụng các PPDH 10 tích cực nhất là PPTH nói riêng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn GDCD hiện nay ở các trường THPT cho tương xứng với vị thế, vai trò của môn học. Tác giả Đinh Văn Đức, Dương Thúy Nga trong cuốn “Phương pháp dạy học GDCD ở THPT” (2011) cũng đề cập những VĐ lý luận cơ bản liên quan đến việc SDTH trong dạy học môn GDCD ở cấp THPT.
Trong đó, các tác giả đề cao vai trò tích cực hóa người học của PPTH. Tác giả Nguyễn Thị Hường trong cuốn “Giáo trình phương pháp dạy học Giáo dục công dân ở THPT” (phần 1) ngoài nhấn mạnh khái niệm, đặc trưng, vai trò của các PP dạy học GDCD nói chung còn phân tích và nêu rõ quy trình sử dụng PPTH trong giảng dạy môn GDCD ở THPT nói riêng. Ngoài ra, còn khá nhiều bài viết, luận văn thạc sĩ, sáng kiến kinh nghiệm có đề cập đến việc SDTH vào dạy học GDCD như: Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số phương pháp giảng dạy môn Giáo dục công dân theo hướng giáo dục tích cực” (2011) của cô giáo Phạm Thị Thúy Phương, Trường THPT Lê Quý Đôn – Quảng Nam. Sáng kiến kinh nghiệm: “Dạy học tích hợp bằng phương pháp sử dụng tình huống pháp luật trong dạy học môn GDCD lớp 11” (2013) của thầy giáo Trần Văn Thiện, Trường THPT Gia Hội – TP Huế.
Luận văn thạc sĩ: “Sử dụng phương pháp tình huống trong dạy học GDCD 12 ở các trường THPT huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh” (2019) của tác giả Ngọc Thị Mị,. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đưa ra tương đối đầy đủ những nội dung cơ bản của PPTH, SDTH vào dạy học GDCD, đồng thời đề cập đến vai trò cần thiết của đổi mới PPDH nói chung, vận dụng PPTH nói riêng. Chỉ ra những hạn chế, tồn tại trong khi sử dụng tình huống nói chung. Khẳng định việc SDTH vào trong thực tiễn giảng dạy là có cơ sở và mang lại kết quả cao.
SDTH Tuy nhiên, hiện nay chưa có nghiên cứu nào tập trung vào việc nghiên 11 cứu về “Sử dụng tình huống trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 6 ở các trường THCS huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” trong chương trình GDPT 2018 hiện hành. Cơ sở lý luận chung về sử dụng tình huống trong dạy học môn Giáo dục công dân 1.