mở đầu cho tư duy, hành động tư duy tích cực diễn ra trong quá trình nêu và giải quyết vấn đề”. Theo tác giả Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thành (1996) [4]: “THCVĐ là một trạng thái tâm lí của chủ thể nhận thức khi vấp phải một mâu thuẫn, một khó khăn về nhận thức. Mâu thuẫn và khó khăn đó vượt ra khỏi giới hạn đã có của chủ thể, bao hàm một điều gì đó chưa biết, đòi hỏi một sự tìm tòi tích cực, sáng tạo”. Tác giả Lê Nguyên Long (2000) [20] định nghĩa: “THCVĐ là trạng thái tâm lí của sự khó khăn về trí tuệ xuất hiện ở con người khi họ trong tình huống có vấn đề mà họ phải giải quyết, không thể giải thích một sự kiện mới bằng tri thức đã có hoặc không thể thực hiện hành động bằng cách thức đã có trước đây mà họ phải tìm một cách thức hành động mới”.
Qua các khái niệm trên ta thấy rằng THCVĐ đặc trưng bởi trạng thái tâm lí của chủ thể, là sự khó khăn khi gặp phải một vấn đề họ thấy cần thiết mà họ có khả năng vượt qua, tuy vậy không thể giải quyết được ngay bằng những tri thức có sẵn mà cần có tri thức và hành động mới. Dấu hiệu cơ bản của THCVĐ là những lúng túng về lí thuyết và thực hành để giải quyết vấn đề. Trạng thái lúng túng xuất hiện trong quá trình nhận thức như một mâu thuẫn giữa chủ thể và khách thể nhận thức trong hoạt động của con người. Chính vì vậy, THCVĐ mang tính chủ quan bên trong chủ thể nhận thức và xuất hiện nhờ tính tích cực nghiên cứu của người học.
THCVĐ được cấu thành bởi 3 yếu tố: (1) nhu cầu nhận thức hoặc hành động của người học, (2) sự tìm kiếm những tri thức và phương hướng hành động chưa biết, (3) khả năng trí tuệ của chủ thể, thể hiện ở kinh nghiệm và NL. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Tình huống thực tiễn trong dạy học Theo tác giả Trịnh Văn Biều (2005) [5] có thể phân loại tình huống dạy học dựa vào tính chất thực tế của sự kiện bao gồm tình huống thực tế và tình huống giả định. Tình huống thực tế là tình huống được chọn lọc từ những sự kiện, những hiện thực trong cuộc sống.
Như vậy, THTT được sử dụng trong dạy học là một dạng tình huống xuất phát từ các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống có liên quan đến tri thức trong chương trình môn học, chứa đựng các mâu thuẫn nhận thức tạo ra động lực thúc đẩy sự tìm tòi, sáng tạo của người học. Để giải quyết tình huống một cách hiệu quả, người học phải có thái độ tích cực và nguồn tri thức kĩ năng phù hợp. THTT có những đặc trưng sau: - THTT là vấn đề có thực trong đời sống. - THTT phải chứa đựng mâu thuẫn nhận thức: Đó là sự mâu thuẫn giữa lí thuyết với thực tiễn, mâu thuẫn giữa tri thức cũ và tri thức mới.
- THTT phải kích thích người học: THTT phải là vấn đề gần gũi với người học, gây ra hứng thú và động lực đòi hỏi người học tìm cách giải quyết vấn đề đặt ra trong tình huống một cách tự giác và hiệu quả. - THTT phải có tính phù hợp: sự phù hợp sẽ tạo niềm tin cho người học về việc mình có khả năng GQVĐ mà tình huống đặt ra. Một tình huống dù có hấp dẫn nhưng không phù hợp với trình độ nhận thức của người học hoặc hoàn cảnh hiện tại sẽ không đạt được mục tiêu dạy học mong muốn.2 Vai trò THTT trong dạy học 1. THTT giúp người học dễ hiểu và dễ nhớ các vấn đề lý thuyết phức tạp.
Các kiến thức khi lĩnh hội một cách riêng lẻ hoặc tách biệt với nhau có thể gây khó khăn cho HS trong việc tiếp nhận. Nếu học lý thuyết, người học có thể rơi vào tình trạng “học vẹt”, học thuộc lý thuyết mà không hiểu nên rất mau quên. Bởi lẽ hệ thống kiến thức của nhân loại là kho tàng khổng lồ song không phải kiến thức nào cũng có ý nghĩa đối với đời sống của mỗi cá nhân.Tuy nhiên, khi các kiến thức được đặt vào hoàn cảnh cụ thể, xuất phát từ đời sống thì nó thực sự là vấn đề gần gũi, đáng quan tâm. HS sẽ có sự liên kết giữa THTT và lí thuyết, tạo nên những dấu ấn đặc biệt khiến sự ghi nhớ rất tự nhiên và bền vững.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Thông qua phân tích, thảo luận, người học có thể tự rút ra những kiến thức lý luận bổ ích và ghi nhớ những kiến thức này một cách dễ dàng trong thời gian dài. THTT giúp người học hiểu được vấn đề một cách sâu sắc gắn liền với quá trình giải quyết tình huống đó. Khi HS nhận thấy giá trị của kiến thức đang lĩnh hội thì động cơ học tập được thúc đẩy, tăng hứng thú và sự lĩnh hội tri thức lúc này mang tính chủ động đối với họ. THTT giúp HS có cơ hội để liên kết, vận dụng các kiến thức đã học được trong một môn học và giữa các môn học khác nhau.
Khi tiếp xúc với tình huống cụ thể, HS cần vận dụng đến nhiều kiến thức lý thuyết khác nhau trong cùng một môn học hoặc của nhiều môn học khác nhau. Đây là điều kiện tốt để phát huy việc dạy học theo hướng tích hợp và thực hiện mục tiêu của giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay là dạy kiến thức, kỹ năng và thái độ theo định hướng phát triển năng lực. THTT góp phần phát triển khả năng tư duy, óc sáng tạo và năng lực GQVĐ cho HS. Nếu trong PPDH truyền thống, quá trình truyền đạt thông tin theo một chiều giữa GV và HS, trong đó GV là người truyền đạt tri thức và HS là người tiếp nhận tri thức thụ động thì dạy học bằng THTT sẽ tạo ra một môi trường học tích cực có sự tương tác cao giữa GV và HS, giữa các HS với nhau.
THTT chứa đựng những khó khăn, mâu thuẫn trong nhận thức, buộc HS phải nỗ lực tư duy để giải quyết tình huống. Để giải quyết tình huống đặt ra HS phải suy nghĩ và tìm tòi tích cực để vận dụng kiến thức trong mối liên hệ với thực tiễn. Mỗi THTT không chỉ giới hạn ở một câu trả lời duy nhất hay một vấn đề đơn thuần. Vì thế học sinh cần sử dụng các kỹ năng khác nhau để tìm ra phương án tối ưu hoặc đưa ra nhiều phương án khác nhau.
Câu trả lời cho vấn đề mà HS đưa ra không phụ thuộc vào ý kiến và sự quyết định của GV. Quá trình đó làm xuất hiện các ý tưởng sáng tạo, trau dồi khả năng lựa chọn, phát hiện và GQVĐ. Sử dụng THTT còn giúp HS phát triển khả năng tri giác, nhất là sự quan sát, ghi nhớ, tưởng tượng, tư duy phê phán và tư duy sáng tạo. Với mỗi tình huống cụ thể HS có sự liên hệ các tình tiết, tưởng tượng để đưa ra suy luận cần thiết.
Thông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn qua THTT học sinh được chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, học hỏi từ những quan điểm và ý kiến của HS khác làm phong phú hơn vốn tri thức cá nhân. THTT còn có tác dụng bồi dưỡng khả năng phản biện, trau dồi ngôn ngữ cho HS. Qua việc giải quyết tình huống HS có cơ hội đưa ra quan điểm và bảo vệ quan điểm đó trước tập thể. Khi gặp các tình huống khác trong đời sống,HS có thể nhận diện và tìm cách giải quyết trên cơ sở những kinh nghiệm đã được tích lũy khi học tập bộ môn.
Từ cách thức giải quyết vấn đề HS tự rút ra bài học cho bản thân để thích nghi tốt hơn với môi trường sống luôn biến động. Cuộc sống vốn đa dạng và phong phú nên không loại trừ khả năng phát sinh những vấn đề mới mà các nhà nghiên cứu chưa dự đoán được. Trong tình huống này, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của HS được vận dụng, phát huy tối đa và không loại trừ khả năng họ sẽ tìm ra được những cách lý giải mới. THTT nâng cao tính thực tiễn của môn học và làm tăng sự hứng thú của HS đối với môn học.
HS là người chủ động tìm kiếm tri thức và quyết định kiến thức nào cần được nghiên cứu và học hỏi. Trao đổi, thảo luận nhóm cũng làm tăng hứng thú của HS đối với việc học vì nó kích thích người học tham gia tích cực vào việc tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu, tìm ra giải pháp, tranh luận và phản biện để bảo vệ quan điểm của mình. Tri thức gắn liền với thực tiễn là cơ sở của việc vận dụng các kiến thức HS đã biết vào đời sống. Từ đó HS nhận ra vai trò quan trọng của việc học tập môn học, tạo lập ý thức tự giác và trách nhiệm trong học tập.
Khái lược về năng lực, năng lực GQVĐ 1. Năng lực Có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về năng lực: Theo Từ điển Tiếng Việt (2001) [32], năng lực được hiểu là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, năng lực được hiểu là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo, tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một số dạng hoạt động nào đó. Một số tác giả đã đưa ra định nghĩa năng lực như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Xavier Roegiers (1993) [34] đã coi năng lực là một tích hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống đó một cách tích hợp và một cách tự nhiên. Rudich (1996) [28] nêu định nghĩa NL là tính chất tâm sinh lí của con người chi phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định.
Gardner, Howard (1999) [41]: “NL phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được” F. Weiner (2001) [39] cho rằng : “NL là những kỹ năng kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội.