Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG MỚI TRONG PHÒNG CHỐNG COVID-19 1. Một số khái niệm 1. Phương tiện truyền thông mới 1. Truyền thông Truyền thông là hành động truyền tải, tiếp nhận và chia sẻ thông tin.
Nói cách khác, truyền thông bao gồm nói, viết, nghe, đọc, hoặc thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ, hành vi… để truyền tải thông điệp, biểu lộ cảm xúc. Quá trình truyền thông xuất hiện một cách rất tự nhiên từ thuở sơ khai, giúp con người gắn kết với nhau, đồng thời có những thay đổi trong nhận thức và hành vi. Cũng chính bởi vậy mà truyền thông được coi là cơ sở nền tảng để hình thành nên cộng đồng, xã hội. Có khá nhiều khái niệm về truyền thông được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu.
Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn (2001), “truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau”. Cùng chung một tư tưởng, tác giả Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng (2018) nhận định: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội. Lê Thanh Bình (2012), “truyền thông là một quá trình truyền tải thông tin và thực hiện giao tiếp tương tác chủ động”. Quá trình truyền thông được nhà nghiên cứu Claude Shannon và nhiều nhà nghiên cứu khác đưa ra trong mô hình sau: 13 Hình 1.
Mô hình truyền thông C.Shannon Trong mô hình C.Shannon, Nguồn phát (Source, Sender) chuyển các Thông điệp (Message) thông qua các Kênh (Channel) đến Người nhận (Receiver) và nhận về Phản hồi (Effect). Tuy nhiên, trong quá trình này, Nhiễu (Noise) luôn tồn tại, khi lượng tin truyền đi bị ảnh hưởng bởi các điều kiện tự nhiên, phương tiện kỹ thuật, nền tảng kiến thức, văn hóa, luân lý, tôn giáo, cung độ, lứa tuổi, giới tính, ngôn ngữ…của người nhận. Từ những định nghĩa trên, có thể tựu chung lại rằng: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết, hiểu biết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi theo từng mục đích nhất định. Có thể thấy, về bản chất, truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra giữa chủ thể và đối tượng truyền thông.
Quá trình truyền thông diễn ra khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết,… giữa chủ thể và đối tượng, đồng thời kết thúc khi đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết,… giữa chủ thể và đối tượng. Để truyền thông có hiệu quả, thông tin phải được truyền đạt một cách nhanh chóng và chính xác, rút ngắn khoảng cách giữa các cá nhân. Trong xã hội, phương tiện truyền thông đại chúng còn có tác dụng thúc đẩy xã hội tiến lên. Truyền thông đại chúng Nếu như truyền thông là hành động xuất hiện trước và có thể diễn ra không chủ đích, truyền thông đại chúng lại là một quá trình truyền đạt thông tin có chủ đích ra đời về sau.
Lần đầu tiên thuật ngữ “truyền thông đại chúng” được sử dụng là vào năm 1946, trong lời nói đầu của Hiến chương Liên hợp quốc về văn hóa, khoa học và giáo dục. Trần Hữu Quang, tác giả cuốn Xã hội học về truyền thông đại chúng: “Truyền thông đại chúng (mass communication) là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình”. Đặc biệt, tác giả lưu ý, “một quá trình truyền thông chỉ được gọi là quá trình truyền thông đại chúng nếu nó được phát ra thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng”. Các phương tiện truyền thông đại chúng (mass media) bao gồm những công cụ kỹ thuật hoặc kênh mà nhờ vào đó người ta thực hiện quá trình phổ biến, lan truyền thông tin tới toàn thể mọi người trong xã hội.
Nhờ sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông hiện đại trong thế kỷ 21, truyền thông đại chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ về cả quy mô lẫn mức độ ảnh hưởng tới xã hội. Giờ đây, truyền thông đại chúng không chỉ truyền đạt thông tin, mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Truyền thông đại chúng đã trở thành một phần thiết yếu của đa số người dân toàn thế giới, thể hiện qua sự phổ biến của các loại báo in, báo phát thanh, truyền hình, internet,… 1. Phương tiện truyền thông mới Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông đại chúng và nền tảng công nghệ số, khái niệm truyền thông mới ra đời. Đây là một khái niệm rộng, luôn biến đổi cùng sự phát triển của khoa học và công nghệ.
Vì vậy, để 15 đưa ra một khái niệm chính xác và đầy đủ về truyền thông mới là không hề dễ dàng. Tuy nhiên, ta có thể hình dung truyền thông mới một các rõ rệt nhất qua các phương tiện phổ biến của nó như website, mạng xã hội, game, điện thoại di động, ebook và các hình thức kỹ thuật số khác. Theo Bailey Socha và Barbara Eber-Schmid (2014), “truyền thông mới” là một thuật ngữ tổng hợp của thế kỷ 21, được dùng để định nghĩa tất cả những gì liên quan đến internet cũng như sự tương tác giữa công nghệ, hình ảnh và âm thanh. Các loại hình truyền thông mới luôn phát triển và biến đổi, chính vì vậy khó có thể đoán trước tương lai của nó, chỉ có thể đoán chắc rằng nó sẽ còn thay đổi hàng ngày, hàng giờ và phát triển mạnh mẽ.
Cũng bởi tính tương đối của từ “mới” mà định nghĩa “truyền thông mới” trở nên khó khăn. Chúng ta chỉ vừa làm quen với loại hình truyền thông mới mẻ này, vượt qua khỏi những giá trị quen thuộc. Trong phạm vi luận văn này, tác giả phân biệt phương tiện truyền thông mới là các cách thức truyền thông có nội dung là hình ảnh, âm thanh, chữ viết… được thực hiện đựa trên nền tảng của công nghệ số hoá và mạng internet, cho phép người dùng truy cập bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu hay trên bất kỳ thiết bị số nào, ngoài ra còn cho phép người dùng tương tác và tham gia vào quá trình xây dựng nội dung truyền thông, nhằm phân biệt với các phương tiện truyền thông truyền thống đã được biết đến rộng rãi như báo in, báo phát thanh, báo hình… Về lịch sử ra đời, có thể thấy rằng lịch sử các phương tiện truyền thông mới gắn liền với sự xuất hiện của mạng internet. Năm 1969, mạng ARPANET ra đời, khởi nguồn cho sự phát triển của mạng internet hiện nay.
Năm 1972, Ray Tomlinson phát minh ra email để gửi các thông điệp trên mạng. Năm 1991, Tim Berners Lee phát minh ra World Wide Web (WWW) dựa trên ý tưởng về siêu văn bản của Ted Nelson đưa ra năm 1985. Năm 16 1999, mạng wifi ra đời.0 ra đời và sau năm 2012 là sự xuất hiện của web 3. Hai loại hình web này đều được coi là các phương tiện truyền thông mới (trong khi web 1.0 là phương tiện truyền thông truyền thống) bởi khả năng giao tiếp 3 chiều, có tính mở, tính di động, tính cá nhân hoá cao hơn, đồng thời đăng tải các nội dung theo nhu cầu của người nhân.
Một loại hình tiêu biểu khác được coi là phương tiện truyền thông mới có thể kể đến mạng xã hội (social network). Ra đời từ năm 1995 với Classmate, sau đó là thời kỳ của MySpace, Friendster,… tuy nhiên đến 2006, mạng xã hội mới thực sự bùng nổ với sự xuất hiện của Facebook. Cùng với sự phát triển của ứng dụng di dộng và điện thoại thông minh sau những năm 1990, ngành truyền thông tiếp tục chứng kiến sự ra đời và phát triển của các phương tiện truyền thông mới như blog, vlog, podcast…, mở ra một hướng đi hoàn toàn mới cho các chiến dịch truyền thông sau này. Tác giả Bùi Hoài Sơn trong cuốn Phương tiện truyền thông mới và những thay đổi văn hoá – xã hội ở Việt Nam (2008) khẳng định: “Các phương tiện truyền thông mới là một trong những thành tựu quan trọng nhất mà loài người đã đạt được trong vòng hai thập kỷ trở lại đây… Sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông mới đã tạo nên những thay đổi văn hoá – xã hội sâu sắc.
Những thay đổi ấy không chỉ dừng lại ở biểu hiện bên ngoài xã hội hay con người, mà nó còn thấm sâu, làm thay đổi bản chất của xã hội cũng như chính đời sống tâm lý, thói quen của mỗi con người. Nó khiến cho xã hội chuyển động với một tốc độ nhanh hơn và các khoảng cách xã hội được thu hẹp hơn rất nhiều. Những giá trị xã hội cũng đang trong quá trình biến đổi.” Một vài phương tiện truyền thông mới tiêu biểu Có rất nhiều loại hình truyền thông mới, tuy nhiên tiêu biểu có thể kể đến như các trang web mạng xã hội, web 2.0, các ứng dụng di động, blog, vlog, podcast… 17 - Trang web mạng xã hội (Social Network Sites): Trang web mạng xã hội có thể được định nghĩa là các dịch vụ dựa trên nền tảng web cho phép các cá nhân tạo hồ sơ công khai hoặc bán công khai trong một hệ thống có giới hạn, đưa ra danh sách những người dùng khác mà họ có thể chia sẻ kết nối và duyệt danh sách các kết nối của người dùng với những kết nối thực hiện bởi người khác trong hệ thống. Bản chất và tên gọi của những kết nối này có thể khác nhau giữa các trang web (Danah Boyd M., Nicole Ellison, Social Network Sites: Definition, History, and Scholarship).
Điều khiến các trang mạng xã hội trở nên độc đáo không phải bởi chúng cho phép các cá nhân gặp gỡ người lạ, mà bởi chúng cho phép người dùng hiển thị rõ các mối liên kết của họ. Đồng thời, mạng xã hội tạo môi trường thuận lợi để người dùng giao tiếp, trao đổi, giúp họ vượt qua rào cản không gian, tâm lý e ngại khi tiếp xúc với những người xa lạ. Những mối quan hệ được phát triển trên mạng xã hội cũng có thể trở nên vô cùng hữu ích, đóng góp vào việc điều phối và huy động hành động xã hội. Một vài trang web mạng xã hội tiêu biểu có thể kể đến như Facebook, Instagram, Pinterest, Twitter… Tại Việt Nam, ta có Zalo hoặc Lotus.