phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của việc sử dụng graph để dạy học ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12 Chƣơng 2: Sử dụng Graph trong dạy học ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12 (khối Bổ túc văn hóa – Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên ở Tỉnh Lạng Sơn). Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 11 z Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG GRAPH ĐỂ DẠY HỌC ÔN TẬP TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12 1. Khái quát lí thuyết graph 1. Khái niệm graph Graph là một lý thuyết có nguồn gốc từ toán học.
Trong toán học, lý thuyết graph là một lý thuyết khoa học độc lập, trƣởng thành, có nhiều ứng dụng trong khoa học và thực tiễn. Đến nay, lý thuyết graph đã đƣợc sử dụng rộng rãi và trở thành một tên gọi chung khá quen thuộc của nhiều ngành khoa học nhƣ: Tâm lý học, Xã hội học, Xây dựng, Giao thông, Quản lý và dạy học… Trong việc chuyển hoá graph toán học thành phƣơng pháp graph dạy học, ta chỉ căn cứ vào vận dụng tƣ tƣởng cơ bản của lý thuyết graph - đó là nguyên lý về cấu trúc của graph. Theo tiếng Anh: graph (danh từ) có nghĩa là: sơ đồ, đồ thị, mạng, mạch. Graph (động từ) có nghĩa là: vẽ sơ đồ, vẽ đồ thị, mạng, mạch.
Theo tiếng Pháp cũng có nghĩa tƣơng tự chỉ có hơi khác ở ký hiệu. Khi là danh từ graphe có nghĩa là: sơ đồ, đồ thị, mạng, mạch. Còn khi là phó từ, graphiquement có nghĩa là: bằng sơ đồ, bằng đồ thị, bằng mạng, mạch. Các nhà khoa học khi nghiên cứu về lý thuyết graph đã thống nhất quan niệm vẫn giữ nguyên tên gọi của lý thuyết này là "graph" chứ không dịch sang tiếng Việt và đều đƣợc dịch nghĩa là sơ đồ hay mạng, mạch.
Tuy nhiên, điều cần phải lƣu ý không phải bất kỳ sơ đồ nào cũng đƣợc gọi là graph. 12 z Ví dụ các sơ đồ sau không phải là sơ đồ graph: Trong đời sống hàng ngày, nhiều khi chúng ta cần phải vẽ một sơ đồ để biểu thị mối quan hệ giữa các yếu tố, các đối tƣợng một cách trực quan bằng hình ảnh, bằng đƣờng nét. Ví dụ, ta phải vẽ sơ đồ cơ cấu tổ chức của một cơ quan, một trƣờng học; vẽ sơ đồ hƣớng dẫn đƣờng đi trong một thành phố; hoặc vẽ sơ đồ trong một khu dân cƣ; hay vẽ sơ đồ cho một khu công nghiệp…Để vẽ đƣợc nó, chúng ta cần phải dùng kí hiệu nào đó để thay thế cho đối tƣợng cần xem xét. Những lúc ấy ta thƣờng dùng các điểm (hoặc các ô vuông, các đƣờng tròn hay những hình trữ nhật…) ứng với một đối tƣợng hoặc một yếu tố.
Ví dụ, điểm A, B, C, D, F…đƣợc sử dụng để thay cho một vấn đề hay đối tƣợng nào đó mà chúng ta đang định tìm hiểu. Lúc này, trên sơ đồ ta có thể kí hiệu đối tƣợng cần xem xét thành từng điểm cụ thể, chẳng hạn thành A, B, C, D, E, F: A. Nhƣng nếu dừng ở đây, ta mới chỉ có đƣợc số lƣợng các yếu tố, các đối tƣợng cần tìm hiểu mà chƣa thấy đƣợc mối quan hệ giữa chúng. Muốn thể hiện mối quan hệ giữa các đối tƣợng đó, ta phải gắn, phải nối các yếu tố có mối quan hệ lại với nhau.
Khi thể hiện mối quan hệ nhƣ vậy, chúng ta có thể dùng những đoạn thẳng, đoạn cong hay một đoạn gấp khúc bất kì nào đó. 13 z Điều quan trọng là, khi ta đã dùng kí hiệu loại nào, thì cần dùng thống nhất một loại cho toàn bộ sơ đồ đó.