ĐẶT VẤN ĐỀ Vùng ven biển Việt Nam dọc theo chiều dài bờ biển tới 3200km, là nơi sinh sống của triệu hộ dân, chứa đựng nhiều tài nguyên thủy hải sản, nông nghiệp, du lịch sinh thái, và công nghiệp khai thác, chế biến… đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của nƣớc ta. Những năm qua, khai thác vùng ven biển đã đáp ứng nhu cầu phát tiển xã hội, cung ứng nguồn thực phẩm thiết yếu và sinh kế cho nhân dân liên tục gia tang. Song trong thực tiễn, những khu vực này còn chịu nhiều rủi ro, dễ bị tổn thƣơng trƣớc những biến động của thiên tai, biến đổi khí hậu, mƣa bão và nƣớc biển dâng. Rừng ngập mặn là một hệ sinh thái rất đặc biệt, đây là hệ sinh thái chuyển tiếp giữa biển và đất liền, ngoài sự đa dạng sinh học cao, sự thích nghi tuyệt vời của sinh vật đối với điều kiện môi trƣờng sống khắc nghiệt, rừng ngập mặn còn có môt đặc điểm là có cƣờng độ quang hợp cao, điều đó chứng tỏ khả năng hấp thụ CO2 của rừng ngập mặn là rất quan trọng trong việc làm giảm khí CO2.
Ngày nay môi trƣờng toàn cầu đang có những biến đổi theo chiều hƣớng xấu. Sinh quyển đang bị thái hóa và môi trƣờng sinh thái bị khủng hoảng. Môi trƣờng sống đang bị ô nhiễm. Tài nguyên sinh vật và tài nguyên rừng bị cạn kiệt.
Tài nguyên đất đang bị suy giảm. Tài nguyên nƣớc ngọt bị suy giảm và ô nhiễm. Khí hậu đang thay đổi và gây ra nhiều hậu quả xấu. Nhƣng biến đổi này là kết quả của các quá trình tự nhiên hoặc do hoạt động của con ngƣời.
Vì thế, vẫn đề bảo vệ môi trƣờng là mối quan tâm to lớn của toàn thế giới. Để bảo vệ môi trƣờng sống, cộng đồng thế giới đã cam kết cùng nhau sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên, giảm sự can thiệp vào các hệ sinh thái tự nhiên, đồng thời gia tang sự phục hồi và phát triển những nguồn tài nguyên mới. Đê làm giảm ô nhiễm không khí, cộng đồng thế giới đang kêu gọi cắt giảm sự đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (Dàu mỏ và khí đốt.), đồng thời tang 1 cƣờng bảo vệ và phát triển rừng. Vì rừng có hả năng cân bằng một số chất khí trong môi trƣờng nhƣ CO2 và O2; do đó bảo vệ va phát triển rừng là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ và chống ô nhiễm môi trƣờng.
Hiện nay đã có khá nhiều các nghiên cứu liên quan đến việc xác định sinh khối và trữ lƣợng cacbon của rừng ngập mặn, nhƣng chủ yếu nghiên cứu trên từng loài riêng biệt và đối với loại rừng trồng thuần loài. Mặt khác, đối với mỗi vùng điều kiện sống khác nhau thì khả năng hấp thụ CO2 của các loài, thậm chí các cây trong cùng một loài là có sụ khác nhau. Nếu áp dụng cùng một kết quả cho các khu vực khác trên thế giới vào Việt Nam thì xẽ không chính xác. Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Sử dụng ảnh viễn thám ƣớc tính sinh khối và trữ lƣợng cacbon rừng ngập mặn ven biển tại xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh” đƣợc thực hiện nhằm góp phần hoàn thiện hơn phƣơng pháp xác định định sinh khối, tính toán trữ lƣợng cacbon tính tụ cho rừng ngập mặn ở nơi này, qua đó cung cấp thông tin làm cơ sở khoa học cho công việc quản lý bảo vệ rừng.
2 PHẦN II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về rừng ngập mặn 2. Khái niệm rừng ngập mặn Rừng ngập mặn là những quần xã thực vật hình thành ở vùng ven biển và của sông những nơi bị tác động bởi thủy triều ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới. Trên thế giới có nhiều tên gọi khác nhau nhƣ “rừng ven biển”, “rừng ở vùng thủy triều” và “rừng ngập mặn” (FAO, 1994).
Ở Việt Nam, hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất tên gọi chung là “Rừng ngập mặn” (Ngô Đình Quyế, Võ Đại Hải, 2012). Theo Phan Nguyên Hồng (1999)[4], các cây ngập mặn sống ở vùng chuyển tiếp giữa môi trƣờng biển và đất liền, tác động của các yếu tố sinh thái ảnh hƣởng đến phân bố của chúng, cây ngập mặn là những cây gỗ và cây bụi thƣờng xanh, thuộc nhiều họ không hề có quan hệ thân thuộc với nhau nhƣng có những đòi hỏi nhƣ nhau về sinh cảnh. Rừng ngập mặn là kiểu thảm thực vật đặc trƣng cho vùng ven biển nhiệt đới và Á nhiệt đới. Theo Thái Văn Trừng (1999)[18], giới hạn kiểu phụ thổ nhƣỡng rừng ngập mặn vào đất mặn bùn lầy, bị ngập nƣớc biển hang ngày hoạc từng thời kỳ, trong đó chứa chủ yếu là muối NaCl và các loại muối khác với tỷ lệ ít hơn.
Vai trò của rừng ngập mặn Rừng ngập mặn có vai trò rất lớn đối với tự nhiên và cả đời sống con ngƣời. a) Vai trò đối với tài nguyên và môi trường Rừng ngập mặn là nơi cƣ trú và cung câp nguồn thức ăn cho các quần thể sinh vật của sông, ven biển. Rừng ngập mặn có tác dụng phân hủy chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng cửa sông, ven biển. 3 Điều hòa khí hậu, mở rộng diện tích đất bồi, hạn chế xói mòn sạt lở, xâm nhập mặn và tác hại của gió bão.
Rừng ngập mặn giữ vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đê ven biển, ngăn cản sóng biển bảo vê sản xuất nông nghiệp vùng ven biển. Đặc biệt rừng ngập mặn còn có ý nghĩa mở rộng đất liền nhờ quá trình bồi tụ lấn biển. b) Vai trò đối với kinh tế - xã hội Rừng ngập mặn là nơi sinh sống của rất nhiều loại hải sản có giá trị nhƣ tôm, cua, cá… Đây la nguồn lợi hải sản phong phú mà ngƣời dân có thể khai thác. Ngoài ra, ngƣời dân còn tận dụng nguồn thức ăn phong phú từ rừng ngập mặn để phát triển nuôi tôm, cá, ngao, sò… Rừng ngập mặn mạng lại giá trị cho nhiều ngành kinh tế khác nhau.
Ngoài nguồn tài nguyên gỗ, rừng ngập mặn còn có nhiều nguồn tài nguyên hải sản, tài nguyên lâm ản ngoài gỗ có giá trị cao phục vụ cho nhu cầu Trong nƣớc bva xuất khẩu. Chỉ tính tài nguyên lâm sản ngoài gỗ lớn rừng ngập mặn cung cấp: 30 loài cây cho gỗ, than, củi; 21 loài cây làm diệc liệu cho con ngƣời; 21 loài cây có hoa nuôi ong mật; 14 loài cây cho tannin; 9 loài cây chủ thả cánh kiến đỏ, 24 loài cây cho phân xanh cải tạo đất; 1 loài cây cho nhựa để sản xuất nƣớc giải khát, đƣờng, cồn (Phan Nguyên Hồng và Hoàng Thị Sản, 1984, 1993)[5] [36]. Rừng ngập mặn còn mang lại thu nhập cho hoạt động du lịch sinh thái. Nhƣ vậy, ý nghĩa kinh tế của rừng ngập mặn rất đa dạng.
Rừng ngập mặn trên thế giới RNM phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo và nhiệt đới hai bán cầu. Tuy nhiên một số loài có thể mở rộng khu phân bố lên phía bắc tới Bermunda (32º20' Bắc) và Nhật Bản (31º22' Bắc) nhƣ Trang (Kandelia obovata), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), Đâng (Rhizophora stylosa), Cóc vàng (Lumnitzera racemosa). Giới hạn phía nam của RNM là New Zealand (38°03’ Nam) và phía nam Australia (38º43’ Nam). Ở những vùng này do khí hậu mùa đông lạnh 4 nên thƣờng chỉ còn loài Mắm biển (Avicennia marina) (Phan Nguyên Hồng, 1999)[4].
Khi nghiên cứu RNM, Tomlinson (1986)[39] phân chia các quần xã RNM làm hai nhóm có thành phần loài cây khác nhau. Nhóm phía đông tƣơng ứng với vùng Ấn Độ-Thái Bình Dƣơng với số loài đa dạng và phong phú. Nhóm phía tây gồm bờ biển nhiệt đới châu Phi, châu Mỹ ở cả Đại Tây Dƣơng và Thái Bình Dƣơng. Số loài ở đây ít chỉ bằng 1/5 ở phía Đông (Spalding và cs, 1997)[35].
Các loài chủ yếu là Đƣớc đỏ (Rhizophora mangle), Mắm (Avicennia germinans). Tuy nhiên kích thƣớc của một số loài cây lại lớn hơn nhóm phía Đông, ví dụ nhƣ ở Brazin Đƣớc đỏ cao trên 50m và ở Ecuado loài này cao trên 60m. Nghiên cứu đánh giá về RNM mới đây của FAO[28], với tiêu đề là “Rừng ngập mặn thế giới 1980 – 2005”, đã cho biết tổng diện tích RNM đã giảm từ 18,8 triệu ha năm 1980 xuống còn 15,2 triệu ha năm 2005. Tuy nhiên có sự chậm lại trong tỷ lệ mất RNM: từ khoảng 187.000 ha bị phá huỷ hàng năm trong những năm 1980 thì trong giai đoạn 2000 - 2005 chỉ còn 102.000 ha mỗi năm, điều này đã phản ánh sự nâng cao nhận thức về giá trị của HSTRNM.
Châu Phi, Bắc và Trung Mỹ là những khu vực bị suy giảm đáng kể diện tích RNM với con số mất mát tƣơng ứng là 690.000 ha rừng trong vòng 25 năm qua. Châu Á gánh chịu sự mất RNM lớn nhất từ năm 1980, với hơn 1,9 triệu ha bị tàn phá, chủ yếu do những thay đổi trong việc sử dụng đất đai.1: Bản đồ phân bố rừng ngập mặn trên thế giới. Ở cấp quốc gia, Indonesia, Mexico, Madagasca, Pakistan, Papua New Guinea và Panama là những nƣớc có diện tích rừng bị mất lớn nhất trong những năm 1980. Tổng diện tích rừng bị mất ở những nƣớc này là khoảng 1 triệu ha tƣơng đƣơng với diện tích Jamaica.
Nhƣng trong những năm 1990, Panama và Pakistan đã thành công trong việc giảm tỷ lệ mất RNM. Ngƣợc lại Madagasca, Malaysia và Việt Nam lại trải qua thời kỳ phá rừng tăng lên và nằm trong số 5 quốc gia đứng đầu về diện tích rừng bị mất trong thập niên 1990 và giai đoạn 2000-2005. Báo cáo của FAO cũng cho rằng Nigeria, Indonesia, Autralia, Brazil và Mexico có tổng diện tích RNM chiếm 50% tổng diện tích RNM trên toàn thế giới. Những nguyên nhân chính dẫn đến sự tàn phá RNM đó là do áp lực dân số cao, sự chuyển đổi quy mô lớn diện tích RNM sang nuôi trồng thuỷ sản (NTTS), nông nghiệp, cơ sở hạ tầng và du lịch, cũng nhƣ ô nhiễm môi trƣờng và các thảm hoạ tự nhiên.2: Biểu đồ phân bố rừng ngập mặn trên thế giới.
Rừng ngập mặn ở Việt Nam Theo Đề án phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển giai đoan 2008 – 2015 của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn (đã đƣợc Thử tƣớng Chính phủ phê duyệt tại CV số 405/TTg-KTN ngày 16/03/2009), vùng ven biển nƣớc ta có thể chia làm 5 vùng. Tổng diện tích quy hoach cho mục đích phát triển rừng ngập mặn là 323.131 là rừng trồng và 57.610 là rừng tự nhiên), phân bố tại các vùng sau. Vùng ven biển Quảng Ninh và đồng bằng Bắc Bộ (QN&ĐBBB), gồm 5 tỉnh (Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình): 88. Trong đó, diện tích có rừng là 37.651ha, phân bố chủ yếu ở Quảng Ninh.