ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng ngập mặn là loại rừng phân bố ở vùng cửa sông, ven biển nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi có thủy triều ra vào hàng ngày. Với các hệ thống sống lớn và điều kiện thuận lợi, cùng đƣờng bờ biển dài hơn 3260 km, Việt Nam là một trong những nƣớc có diện tích rừng ngập mặn lớn ở Châu cũng nhƣ trên thế giới. Rừng ngập mặn nƣớc ta có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển, ngăn chặn gió bão, hạn chế xói lở, mở rộng diện tích đất liền và điều hòa khí hậu. Bên cạnh đó rừng ngập mặn còn có giá trị lớn về kinh tế - xã hội nhƣ cung cấp thực phẩm (hải sản…), cung cấp dƣợc phẩm, lâm sản ngoài gỗ, nhiên liệu (than các loại cây rừng ngập mặn), … Đặc biệt, rừng ngập mặn là hệ sinh thái có vai trò to lớn trong việc bảo vệ môi trƣờng và chống lại các tác động rủi ro của biến đổi khí hậu.
Song sự nhìn nhận đánh giá chƣa đầy đủ về giá trị cả rừng ngập mặn, hoạt động quản lý, bảo vệ còn hạn chế dẫn đến nhiều năm qua diện tích rừng ngập mặn bị suy giảm nghiêm trọng. Hiện nay, vấn đề biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hƣởng đến môi trƣờng sống của con ngƣời trên toàn thế giới mà Việt Nam là một trong các nƣớc bị ảnh hƣởng nghiêm trọng nhất. Chặt phá rừng và suy thoái rừng dẫn đến các bon tự nhiên không còn chứa trong cây nữa mà sẽ phát thải vào không khí hoặc sự phân hủy dần dần của thực vật chết qua nhiều thập kỷ cũng làm tăng lƣợng khí các bon dioxit trong không khí. Vì thế, để kiểm soát lƣợng khí thải vào khí quyển ngoài việc kiểm soát lƣợng khí thải từ các khu công nghiệp trên thế giới, việc giám sát chặt chẽ nguồn phát thải từ rừng là hết sức cần thiết vì rừng là nguồn lƣu trữ lƣợng các bon trong tự nhiên.
Để thực hiện việc này, ngoài việc lập bản đồ hiện trạng phân bố rừng thì việc tính toán sinh khối rừng là hết sức quan trọng, đặc biệt là biến động sinh khối. Kết quả tính sinh khối rừng chính xác sẽ là một tham số quan trọng trong việc đƣa ra các phƣơng án nhằm đối phó với vấn đề biến đổi khí hậu. Trong nƣớc cũng nhƣ trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến xác định biến động sinh khối, tính toán xây dựng bản đồ biến động trữ lƣợng các 1 bon rừng ngập mặn nhƣng ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS vào nghiên cứu ở nƣớc ta thì chƣa nhiều. Thay vì phải trực tiếp đi vào rừng để điều tra chi tiết nhƣ trƣớc, công nghệ viễn thám kết với kỹ thuật lấy mẫu điều tra thực địa sẽ làm tăng tính khách quan và giảm đáng kể chi phí cũng nhƣ sức lao động cho các nhà nghiên cứu hay làm công tác điều tra.
Ngày nay, kỹ thuật viễn thám trên thế giới ngày càng hoàn thiện tiến bộ hơn, hàng loạt các chƣơng trình giám sát Trái Đất bằng vệ tinh đƣợc thực hiện qua các năm. Với chi phí thấp, tiếp cận dễ dàng hơn vì vậy việc ứng dụng kỹ thuật vào quản lý, giám sát diện tích rừng ở Việt Nam cũng ngày càng phổ biến hơn. Từ ý nghĩa thực tiễn và khoa học, đề tài nghiên cứu “Sử dụng ảnh viễn thám Sentinel 2 xác định biến động sinh khối và trữ lượng cácbon rừng ngập mặn trên mặt đất tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình giai đoạn 2015- 2019” nhằm góp phần bổ sung cơ sở khoa học tin cậy đánh giá biến động tài nguyên rừng ngập mặn, đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả nhằm quản lý, bảo vệ, tăng trữ lƣợng các bon rừng ngập mặn tại khu vực nghiên cứu. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về GIS và viễn thám 1. Tổng quan về GIS Hệ thống thông tin địa lý - Geographic Information System (GIS) là một nhánh của công nghệ thông tin, đã hình thành từ những năm 60 của thế kỷ trƣớc và phát triển rất mạnh trong những năm gần đây. GIS đƣợc sử dụng nhằm xử lý đồng bộ các lớp thông tin không gian (bản đồ) gắn với các thông tin thuộc tính, phục vụ nghiên cứu, quy hoạch và quản lý các hoạt động theo lãnh thổ. Ngày nay, ở nhiều quốc gia trên thế giới, GIS đã trở thành công cụ trợ giúp quyết định trong hầu hết các hoạt động kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng, đối phó với thảm hoạ thiên tai v.
GIS có khả năng trợ giúp các cơ quan chính phủ, các nhà quản lý, các doanh nghiệp, các cá nhân v. đánh giá đƣợc hiện trạng của các quá trình, các thực thể tự nhiên, kinh tế-xã hội thông qua các chức năng thu thập, quản lý, truy vấn, phân tích và tích hợp các thông tin đƣợc gắn với một nền bản đồ số nhất quán trên cơ sở toạ độ của các dữ liệu bản đồ đầu vào. Có nhiều định nghĩa về GIS, nhƣng nói chung đã thống nhất quan niệm chung: GIS là một hệ thống kết hợp giữa con người và hệ thống máy tính cùng các thiết bị ngoại vi để lưu trữ, xử lý, phân tích, hiển thị các thông tin địa lý để phục vụ một mục đích nghiên cứu, quản lý nhất định. Xét dƣới góc độ là công cụ, GIS dùng để thu thập, lƣu trữ, biến đổi, hiển thị các thông tin không gian nhằm thực hiện các mục đích cụ thể.
Xét dƣới góc độ là phần mềm, GIS làm việc với các thông tin không gian, phi không gian, thiết lập quan hệ không gian giữa các đối tƣợng. Có thể nói các chức năng phân tích không gian đã tạo ra diện mạo riêng cho GIS. Xét dƣới góc độ ứng dụng trong quản lý nhà nƣớc, GIS có thể đƣợc hiểu nhƣ là một công nghệ xử lý các dữ liệu có toạ độ để biến chúng thành các thông tin trợ giúp quyết định phục vụ các nhà quản lý. 3 Xét dƣới góc độ hệ thống, GIS là hệ thống gồm các hợp phần: Phần cứng, Phần mềm, Cơ sở dữ liệu và Cơ sở tri thức chuyên gia.
Chức năng GIS Một hệ GIS phải đảm bảo đƣợc 6 chức năng cơ bản sau: - Capture: thu thập dữ liệu. Dữ liệu có thể lấy từ rất nhiều nguồn, có thể là bản đồ giấy, ảnh chụp, bản đồ số… - Store: lƣu trữ. Dữ liệu có thể đƣợc lƣu dƣới dạng vector hay raster. - Query: truy vấn (tìm kiếm).
Ngƣời dùng có thể truy vấn thông tin đồ hoạ hiển thị trên bản đồ. - Analyze: phân tích. Đây là chức năng hộ trợ việc ra quyết định của ngƣời dùng. Xác định những tình huống có thể xảy ra khi bản đồ có sự thay đổi.
- Display: hiển thị. Hiển thị bản đồ. - Output: xuất dữ liệu. Hỗ trợ việc kết xuất dữ liệu bản đồ dƣới nhiều định dạng: giấy in, Web, ảnh, file… 1.
Tổng quan về viễn thám Viễn thám (Remote sensing) đƣợc định nghĩa bằng nhiều từ ngữ khác nhau, nhƣng nói chung đều thống nhất theo quan điểm chung là khoa học và công nghệ thu thập thông tin của vật thể mà không tiếp xúc trực tiếp với vật thể đó. Định nghĩa sau đây có thể coi là tiêu biểu: “Viễn thám là khoa học và công nghệ mà theo đó các đặc tính đối tƣợng quan tâm đƣợc nhận diện, đo đạc, phân tích các tính chất mà không có sự tiếp xúc trực tiếp với đối tƣợng”. Đối tƣợng trong định nghĩa này có thể hiểu là một đối tƣợng cụ thể, một vùng hay một hiện tƣợng. Viễn thám điện từ là khoa học và công nghệ sử dụng sóng điện từ để chuyển tải thông tin từ vật cần nghiên cứu tới thiết bị thu nhận thông tin cũng nhƣ công nghệ xử lý để các thông tin thu nhận có ý nghĩa.
Viễn thám điện từ bao gồm viễn thám quang học và viễn thám Radar. Viễn thám cung cấp nhanh các tƣ liệu ảnh số có độ phân giải cao, làm dữ liệu cơ bản cho việc thành lập và hiệu chỉnh hệ thống bản đồ và cơ sở dữ liệu địa lý quốc gia. 4 Tách thông tin trong viễn thám có thể phân thành 5 loại: Phân loại: là quá trình tách, gộp thông tin dựa trên các tính chất phổ, không gian và thời gian cho bởi ảnh của đối tƣợng cần nghiên cứu. Phát hiện biến động: là sự phát hiện và tách các sự biến động (thay đổi) dựa trên dữ liệu ảnh đa thời gian.
Tách các đại lƣợng vật lý: chiết tách các thông tin tự nhiên nhƣ đo nhiệt độ, trạng thái khí quyển, độ cao của vật thể dựa trên các đặc trƣng phổ hoặc thị sai của ảnh lập thể. Tách các chỉ số: tính toán xác định các chỉ số mới (chỉ số thực vật NDVI. Xác định các đặc điểm: xác định thiên tai, các dấu hiệu phục vụ tìm kiếm khảo cổ. Đặc trƣng của ảnh viễn thám: Năng lƣợng điện tử có thể đƣợc nhận biết bằng phim ảnh hay điện tử.
Có thể ghi biến thiên năng lƣợng trên phim nháy ánh sáng. Cần phân biệt hai khái niệm ảnh (Image) và ảnh chụp (Photograph) trong viễn thám. Ảnh đƣợc hiểu là hình thức biểu diễn “cảnh” bất kỳ, không quan tâm đến bƣớc sóng hay thiết bị viễn thám nào đƣợc sử dụng. Ảnh chụp đề cập đến ảnh đƣợc chụp trên phim ảnh.
Thông thƣờng, ảnh đƣợc chụp tại bƣớc sóng từ 0. Vậy, mọi ảnh chụp là ảnh, nhƣng không phải mọi ảnh là ảnh chụp. Ảnh chụp có thể đƣợc biểu diễn và hiển thị dƣới dạng ảnh số bằng cách chia ảnh thành các ô vuông nhỏ bằng nhau (theo cột và hàng), gọi là pixel. Biểu diễn độ sang của mỗi vùng bằng một giá trị số (DN- Digital Number) 1.
Tích hợp GIS và viễn thám Những kết quả ứng dụng viễn thám gần đây chỉ ra rằng giải quyết một vấn đề thực tiễn chỉ dựa đơn thuần trên tƣ liệu viễn thám là một việc hết sức khó khăn và trong nhiều trƣờng hợp không thể thực hiện nổi. Vì vậy, cần phải có một sự tiếp cận tổng hợp trong đó tƣ liệu viễn thám giữ một vai trò quan trọng và kèm theo các thông tin truyền thông khác nhƣ số liệu thống kê, quan trắc, số 5 liệu thực địa. Cách tiếp cận đánh giá, quản lý tài nguyên nhƣ vậy đƣợc các nhà chuyên môn đặt tên là hệ thống thông tin địa lý. GIS là công cụ dựa trên máy tính dùng cho việc thành lập bản đồ và phân tích các đối tƣợng tồn tại và các sự kiện bao gồm đất đai, sông ngòi, khoáng sản, con ngƣời, khí tƣợng thuỷ văn, môi trƣờng nông nghiệp v.v xảy ra trên trái đất.