CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỌNG GIAO DUC KY NANG SONG CHO HQC SINH TRUNG HOC PHO THONG 1. TONG QUAN VE VAN DE NGHIEN CUU 1. Téng quan các nghiên cứu trên thế giới Từ giữa thế ki XX các nhà giáo dục đã thấy được sự cần thiết của việc giáo. dục cho HS khả năng thích ứng với các điều kiện sống luôn luôn thay đồi.
giáo dục các khả năng nhận thức xã hội, khả năng lựa chọn và ra quyết định khi cần thiết. đó việc GDKNS cho HS là rất cẩn thiết phù hợp với yêu cầu của thời đại. Từ thập niên 1990, thuật ngữ “kỹ năng sống” lần đầu tiên xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEE. Để đáp ứng tốt nhu cầu về sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập thế giới đòi hỏi giáo dục của các nước phải đào tạo được một thể hệ năng động và sáng tạo hơn, trước nhu cầu đó kế hoạch hành động Dakar về giáo dục cho mọi người (Education For-All-Senegan 2000) yêu cầu mỗi quốc gia cần phải đảm bảo cho.
người học được tiếp cận chương trình GDKNS phù hợp, và người ta coi KNS của người học là một tiêu chí để đánh giá chất lượng giáo dục. Thang 12 năm 2003 tai Bali - Indonesia đã diễn ra hội thảo về GDKNS trong giáo dục không chính quy (Việt Nam gọi giáo dục thường xuyên) với sự tham gia của 15 nước. Tại hội thảo này đã xác định mục tiêu của GDKNS trong giáo dục không chính quy của các nước vùng Châu Á - Thái Bình Dương là: nhằm nâng cao. tiểm năng của con người để có hành vỉ thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đôi, các tình huồng của cuộc sống hằng ngày, đồng thời tạo ra sự.
thay và nâng cao chất lượng cuộc sống. Những nghiên cứu về KNS đang được quan tâm ở các nước trên thể giới. nhiên do chưa có một định nghĩa rõ ràng và đẩy đủ về KNS, chưa có các tiêu chí đồng bộ cho việc hoạch định chương trình cho giáo dục. nên cần có các nghiên cứu nhằm cụ thể hóa các nội dung giáo dục phù hợp.
6 Malaysia, GDKNS được xem xét và nghiên cứu dưới ba góc độ: Các kỹ năng thao tác bằng tay, kỹ năng thương mại và đấu thầu, KNS trong đời sống gia đình. GDKNS được khai thác dưới góc độ các kỹ năng hoạt động xã hội, kỹ năng phát triển, kỹ năng chuẩn bị cho tương lai. GDKNS cho HS được xem xét dưới góc độ giúp cho con người sống một cách lành mạnh vẻ thể chất và tỉnh thẳn, nhằm phát triển năng lực. Các KNS được giáo dục là các kỹ năng: kỹ năng giải quyết vấn đẻ, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng quan hệ liên nhân cách.
'Như vậy, nội hàm và nội dung GDKNS ở các nước không giống nhau, song hầu hết các nước trên thế giới (hiện nay đã có hơn 143/155 nước đưa KNS vào nhà trường) đã đưa vào chương trình chính khóa ở cấp tiểu học và trung học, theo 3 hình thức: KNS là một môn học riêng biệt; KNS được tích hợp vào một môn học chính thức và KNS được tích hợp vào nhiều hoặc tắt cả các môn học trong nhà trường. Những năm gần đây, Tổ chức UNESCO tiền hành dự án ở 5 nước Đông Nam Á nhằm vào các vấn để khác nhau liên quan đến KNS. Dự án chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: Xác định quan niệm của từng nước về KNS. Câu hỏi được đặt ra cho mỗi nước là: Quan niệm về KNS như thế nào Phát triển quan niệm này như thế nào trong bối cảnh giáo dục cho mọi người? Rà soát xem kết quả thực hiện các chương trình KNS như thé nào? Việt Nam tham gia chia sẻ với các nước về vấn đề này thông qua ấn phẩm “Life skills Mapping in Viét Nam”.
Giai đoạn 2: Đưa ra những chỉ dẫn do đạc, đánh giá và xây dựng các công cụ kiểm tra (có tiến hành thử nghiệm). Tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam. Kỹ năng sống và GDKNS đã được quan tâm từ lâu ở Việt Nam. Tuy nhiên vấn để này đến nay mới thực sự trở nên cấp thiết vì trong xã hội hiện đại, con người đang đối diện với những thách thức của cuộc sống đặt ra.
Ở nước ta, thuật ngữ “Kỹ. năng sống” được biết đến từ chương trình của UNICEF (1996) “GDKNS dé bảo vệ xức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong ngoài nhà trường”. Quan niệm KNS trong chương trình này bao gồm những kỹ năng cốt lõi như: kỹ năng nhận thức, kỳ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng kiên định, kỹ năng đặt mục tiêu. do các chuyên gia Úc tập huấn.
Tham gia chương trình này có ngành giáo dục và hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Sau này chương trình mang tên *Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS”. “Từ năm 2002-2003, nước ta tiến hành thực hiện đổi mới giáo dục phô thông trên phạm vi toàn quốc. Theo đó, chương trình giáo dục Tiểu học mới định hướng GDKNS thông qua lồng ghép một số môn học có tiềm năng như: Đạo đức, Tự nhiên - Xã hội (ở lớp 1-3) và môn Khoa học (ở lớp 4-5) Bên cạnh đó còn có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học vẻ vấn đề 'KNS của các tác giả: Huỳnh Văn Sơn (2007), Quan niệm về kỹ năng sống hiện nay.
Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh [30]; Nguyễn Thị Hường (chủ biên) (2009), Tài liệu đào tạo giáo viên Tiểu học trình độ đại học, bồi dưỡng giáo. viên và cán bộ quản lý giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội [18]. Các yêu cầu về giáo dục KNS cũng được Nhà nước ta quan tâm và được phản. ánh qua các văn bản pháp luật như: Luật Giáo dục năm 2005 sửa đổi năm 2009, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004, các Chỉ thị của Bộ GD&ĐT như Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDDT, Chi thị số 71/2008/CT-BGDĐT hay kế hoạch số 453/KH-BGDĐT về các vấn đề GDKNS.
Tổng hợp ý kiến của các tác giả và các quan điểm về GDKNS cho HS trong các văn bản của Nhà nước ban hành đã phản ánh nội dung GDKNS, cụ thể như sau: + Giáo dục mầm non chú ý đến dục cho trẻ hành vi, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giao tiếp ứng xử. Đồng thời chú trọng đến các nội dung như: phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển tình cảm, nghệ thuật và thâm mỹ của trẻ. Trong tắt cả nội dung đều chứa đựng nội dung KNS. + Giáo dục tiểu học tập trung vào các kỹ năng: đọc, viết, tính toán, nghe, nói; coi trọng khả năng thích ứng với những thay đôi diễn ra trong cuộc sóng hàng ngày: hình thành các kỹ năng tư duy sáng tạo, phê phán, kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, phát triển trí tưởng tượng.
+ Giáo dục trung học cơ sở chú trọng giáo dục các kỹ năng cơ bản cho HS như: năng lực thích nghỉ, năng lực hành động, năng lực ứng xử, năng lực học suốt đời. Định hướng giúp HS nhận thức: học đề biết, học đẻ làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định. + Giáo dục THPT, xây dựng được khung lý luận về GDKNS từ xác định thuật ngữ, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc, phương pháp, giáo dục cho đến đánh giá két qua va tác đông của GDKNS. Qua đây cho thấy hoạt động GDKNS cho HS được thực hiện chủ yếu thông qua chương trình các môn học và các hoạt động giáo dục của nhà trường, cùng với một số chương trình dự án do nước ngoài tài trợ.
Ngoài ra, trong những năm qua có một số luận văn liên quan đến GDKNS: - Tác giả Từ Thanh Nguyên (2009) với đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý và tổ chức văn hoá ~ giáo dục "Những biện pháp quản lý giáo dục Kỹ năng sống cho HS của Hiệu trưởng các trường THPT tỉnh Trà Vinh”. Luận văn thạc sĩ giáo dục, trường Đại học Đồng Tháp [23]. - Tác giả Nguyễn Pha Lê (2016) với đề tài "Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT huyện Lắp Vò, tỉnh Đồng Tháp”. Luận văn thạc sĩ giáo dục, trường Đại học Đồng Tháp [22].
- Tác giả Dương Hoàng Hảo (2017) với đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phô thông huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp". Luận văn thạc sĩ giáo dục, trường Đại học Đồng Tháp [17]. 'Tuy nhiên, cho tới hiện nay tại huyện Vĩnh Thạnh chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý hoạt động GDKNS cho HS THPT, vi thé day là đề tài khá mới mẻ, việc nghiên cứu là cần thiết có giá trị lý luận và thực tiễn, góp phần giáo dục toàn diện cho HS cấp THPT ở địa phương. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐÈ TÀI 1.
Quản lý, chức năng quản lý nhà trường 1. Quản lý Thuật ngữ “Quản lý” gồm hai qué tinh “Quin” va “Ly” tich hợp vào nhau. Quá trình “Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trong trạng thái ổn 10 định; quá trình “Lý” là sự sửa sang, sắp xép, làm cho nó phát triển. Như vậy “Quản lý” là sự trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó én định và phát triển.
'Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý: Theo Harol Koontz trong tác phẩm “Những vấn đẻ cốt yếu của quản lý” chỉ rõ: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực các. nhân tổ nhằm đạt được các mục đích, mục tiêu của tổ chức. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bắt mãn cá nhân ít nhất” [14]. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là sự.
tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức "[10]. Theo tác giả Trần Kiểm. Juản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yêu là nội lực) một cách tôi tu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [21].