mở đầu hay kết thúc của sự tình hay hành động nào đó. Hay nói một cách khác “THỂ diễn đạt cách tri giác một sự tình “từ bên trong”, nghĩa là cách tri giác sự tình như một tiến trình có chiều dài hay không trong thời gian, vào lúc bắt đầu, vào lúc kết thúc hay vào lúc đang tiến triển, diễn ra một lần hay lặp lại mấy lần, thành tập quán hay không, được nhìn như một biến cố trọn vẹn hay đang dở dang, v.v…,không liên hệ với vị trí thời gian của nó so với lúc phát ngôn”(Comrie 1979, dẫn theo Cao Xuân Hạo ([19]1998:535). Nói tóm lại, THỂ phản ánh “cấu trúc thời gian bên trong” của một sự tình – Aspect describes the internal time structure of an event ([73]2003:212). Mặc dù cũng phản ánh những thuộc tính của thời gian nhưng nội dung của THỂ không phải là định vị một hành động, một biến cố 1 hay trạng thái của sự vật trong thời gian như THÌ mà có những điểm khác với THÌ như sau: - THỂ phản ánh các đặc trưng “bên trong sự tình”, cách diễn biến của một hành động, một trạng thái, xem xét sự tình như một tiến trình có chiều dài hay không trong thời gian, vào lúc bắt đầu, vào lúc kết thúc hay vào lúc đang tiến triển, diễn ra một lần hay lặp lại mấy lần, thành tập quán hay không….Trong khi đó THÌ có chức năng là định vị thời gian “bên ngoài sự tình”, xem xét sự tình diễn ra vào thời điểm nào trên trục thời gian: trước hay sau hay trùng tiêu điểm (điểm quy chiếu cố định trong thời gian) để thấy được mối quan hệ thời gian giữa thời gian diễn ra sự kiện với tiêu điểm.
-THỂ không định vị thời gian của hành động, một biến cố, trạng thái của sự vật hay sự tình như THÌ mà nhiệm vụ đặc trưng của nó là phân loại tình huống dựa trên ý nghĩa THỂ của vị từ…., không liên hệ gì với vị trí thời gian của sự tình so với lúc phát ngôn. Trong khi đó THÌ định vị sự tình một cách trực chỉ, điều này có nghĩa bao giờ THÌ cũng lệ thuộc vào thời điểm phát ngôn. Như đã trình bày ở phần trên, một ngôn ngữ có THÌ hoặc có THỂ hoặc có cả hai là một ngôn ngữ mà THÌ hoặc THỂ là những ý nghĩa bắt buộc phải được diễn đạt bằng phương tiện ngữ pháp (thông thường được thể hiện bằng hình thái học) hay bằng một phương tiện ngữ pháp tương đương khác (một từ chức năng (function word) hay hư từ). Đây là những quy tắc bắt buộc, mặc dù có khi nó không đem lại một thông tin nào vì ý nghĩa của nó được làm rõ nhờ phương tiện từ vựng hoặc ngôn cảnh.
Do đó khi so sánh phương thức diễn đạt ý nghĩa thời gian giữa các ngôn ngữ, không phải chúng ta xem xét ngôn ngữ đó có diễn đạt được sự 1 phân biệt về thời gian hay không mà là phải xem ngôn ngữ đó có bị bắt buộc phải diễn đạt ý nghĩa đó hay không, ngay cả không cần thiết. Những luận điểm trên là nền tảng để chúng tôi có thể tiến hành việc phân tích, miêu tả, cũng như so sánh – đối chiếu phương tiện biểu hiện ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt và tiếng Anh. CHƯƠNG 2: 1 CÁCH DIỄN ĐẠT Ý NGHĨA THỜI GIAN TRONG TIẾNG VIỆT Như chúng ta biết, tiếng Việt tuyệt nhiên không có phạm trù THÌ. Nhưng điều này không có nghĩa là tiếng Việt không thể không diễn đạt được ý nghĩa thời gian.
Thực ra trong tiếng Việt các phương tiện biểu thị ý nghĩa thời gian rất đa dạng và phong phú; số lượng các chỉ tố dùng để diễn đạt ý nghĩa này được thể hiện rất khác nhau; tính chất và cách dùng cũng không giống nhau. Khi cần định vị một sự tình trong thời gian quá khứ hay hiện tại hoặc tương lai, tiếng Việt bao giờ cũng dùng phương tiện từ vựng, tức là dùng khung đề thời gian để chỉ thời gian mà người phát ngôn cần diễn đạt. Việc sử dụng các khung đề thời gian để biểu thị ý nghĩa thời gian là cách dùng chủ đạo trong tiếng Việt và điều này được thể hiện trong các văn bản lịch (nêu các niên đại, thời gian diễn ra sự kiện lịch sử…), văn bản hành chính, văn bản pháp luật, báo chí (ghi lại thời hạn có hiệu lực của một điều khoản, quy chế nào đó…). Tuy nhiên bên cạnh đó trong văn bản nghệ thuật, trong hội thoại hàng ngày, ý nghĩa thời gian có thể dùng đến khung đề thời gian nhưng cũng có khi không dùng đến khung đề thời gian vì lúc đó ý nghĩa thời gian đã được làm rõ nhờ ngữ cảnh nên không cần thiết phải xác định thời gian.
CÁCH XÁC ĐỊNH THỜI ĐOẠN, THỜI LƯỢNG, KHOẢNG CÁCH THỜI GIAN, HOÀN CẢNH THỜI GIAN; CÁCH XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM (Ý NGHĨA “THÌ”) Trong tiếng Việt để diễn đạt đúng ý nghĩa thời gian, trước hết chúng ta cần xác định đúng thuộc tính về lượng hay chất của thời 1 gian, tức là cần phải nắm được các loại ý nghĩa thời gian: ý nghĩa thời đoạn, thời điểm, thời hạn, ý nghĩa về khoảng cách thời gian, hoàn cảnh thời gian…vì khi nắm được các loại ý nghĩa thời gian, chúng ta mới có thể sử dụng các phương tiện từ vựng, cụ thể là khung đề thời gian, một cách chuẩn xác và hợp lý. - Thời đoạn là một khoảng thời gian được phân chia về mặt khối lượng, về độ dài; là cách phân định các thời khoảng trong hiện tại – quá khứ – tương lai. Thời đoạn có thể không xác định hoặc có thể xác định khi nó gắn với thuộc tính của sự việc, của quá trình, của một hoạt động nào đó hoặc là chiều dài của một sự kiện từ khi nó bắt đầu cho đến khi nó kết thúc. - Thời điểm là khoảng thời gian ngắn, được hạn định chính xác.
Thời điểm có thể là một điểm trên trục thời gian, ví dụ: 19 giờ tối nay, 30 phút nữa, sáng mai, trưa qua… - Thời hạn là một phạm vi thời gian được hạn định rõ ràng cho một sự tình diễn ra hay xuất hiện chỉ trong phạm vi đó. Ví: một tuần , 5 ngày, 2 tiếng đồng hồ, 24 tiếng đồng hồ… - Khoảng cách thời gian là khoảng thời gian giữa thời điểm phát ngôn và thời điểm diễn ra sự kiện hoặc là khoảng thời gian giữa hai sự kiện ở hai thời điểm khác nhau. Ví dụ: Tôi sống ở Thành phố Hồ Chí Minh được 25 năm. - Hoàn cảnh thời gian chính là “điểm nhìn” của người phát ngôn.
Tức là thời điểm, thời đoạn đều được định vị, xác định theo cái nhìn của chủ thể phát ngôn. Điều này có nghĩa là dưới góc độ chủ quan của chủ thể phát ngôn thì hoàn cảnh thời gian này vừa có thể là quá khứ cũng có thể là tương lai. Ví dụ:Khi còn là trung đội trưởng, tôi chê 1 tất cả mọi người, coi ai cũng không ra gì, sao lúc ấy tôi ngạo mạn quá! (ý nghĩa quá khứ); Đến năm 2009 nếu không có gì thay đổi, lúc ấy tôi đã là Bí thư Thành Đoàn (mang ý nghĩa tương lai). Để diễn đạt các những ý nghĩa thời gian này trong tiếng Việt chúng ta có các phương tiện sau : I.
DÙNG KHUNG ĐỀ THỜI GIAN (TRẠNG NGỮ) HAY TỪ CHỈ THỜI GIAN Ở VÍ TRÍ KHUNG ĐỀ ĐỂ XÁC ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC THỜI ĐIỂM, THỜI ĐOẠN 1. Dùng danh từ, danh ngữ Như đã nêu ở phần mở đầu chương II, trong những trường hợp nhất thiết cần định vị một sự tình trong thời gian quá khứ hay hiện tại hoặc tương lai, tiếng Việt bao giờ cũng dùng khung đề có nghĩa từ vựng như trước kia, trước đây, thuở trước, hồi ấy, hồi trước, ngày xưa, ngày kia, dạo ấy, dạo nọ, lúc bấy giờ, lúc ấy, khi ấy, ngày trước, hôm nay, hiện nay, bây giờ, sáng nay, ngày mai…(thường gọi là những trạng ngữ thời gian) ([19]1998:549) để chỉ thời gian mà người phát ngôn cần diễn đạt. Nhưng để dễ dàng cho việc phân loại, nhóm các khung đề thời gian, chúng ta có thể chia các khung đề thời gian thành nhóm theo danh từ chỉ đơn vị. Theo cách này chúng ta có thể chia các nhóm như sau: 1.
Nhóm gồm các danh từ có ý nghĩa chỉ thời đoạn hiện tại hoặc nối liền quá khứ với hiện tại hoặc nối liền giữa hiện tại với tương lai hoặc nêu một nhận định tổng quát về thời gian. Nhóm gồm các danh từ có ý nghĩa nối liền quá khứ với hiện tại như bấy lâu, bấy nay, bấy lâu nay, xưa nay, trước nay, bao lâu nay, cho đến bây giờ … 1 - Bấy lâu, bấy nay, bấy lâu nay, bao lâu nay đều có nghĩa giống nhau (bấy lâu, bấy nay và bấy lâu nay giống nghĩa bao lâu nay), đều cùng chỉ một khoảng cách thời gian dài giữa thời điểm phát ngôn đến thời điểm diễn ra sự kiện nào đó cho đến bây giờ. Ví dụ: Xưa nay nàng vẫn hay nghĩ đến những sự khác thường. Thích làm những việc mà người ta không làm được hay không dám làm (O.96) Bấy lâu chú đi làm ăn đâu mà những đứa độc miệng bảo chú chết rồi? (M.58) Thì ra chú Trũi nhà tôi bấy lâu vẫn còn căm nhà Bọ Muỗm.112) Riêng bấy giờ có thể mang hai ý nghĩa: hoặc ý nghĩa tương lai hoặc ý nghĩa quá khứ.
-Bấy giờ hai người đã trèo hết con đường dốc bên cái miếu con (O.147) - biểu thị ý nghĩa quá khứ , lúc này bấy giờ có ý nghĩa tương đương với khi ấy, lúc ấy… - Bấy giờ chỉ mang ý nghĩa tương lai khi nó được dùng cấu trúc: bao giờ A thì sẽ bấy giờ B hoặc trong câu ghép điều kiện – nhân quả. Ví dụ: Nếu bấy giờ em vẫn không chê anh, nếu thật em yêu anh, chứ không phải chỉ thích cho vui thì anh sẽ là người chồng tốt của em (Đ. Nhóm gồm các danh từ có ý nghĩa nối liền giữa hiện tại và tương lai từ nay, từ đây, từ giờ…. Ví dụ : - Từ đây, tôi đã bắt đầu vào cuộc đời của tôi (M.7) 1 - Ta cấm từ giờ không được đòi nợ Nhà Trò nữa (M.
Nhóm gồm các danh từ có ý nghĩa chỉ thời đoạn hiện tại như ngày nay, hiện nay, bây giờ, giờ đây… Nhóm các danh từ mang nét nghĩa chung là biểu thị ý nghĩa hiện tại. Tuỳ vào từng ngữ cảnh cụ thể và cũng tuỳ vào khoảng thời gian ngắn hay dài mà chúng ta sử dụng các danh từ này: - Bây giờ, giờ đây thường được dùng ngay tại thời điểm phát ngôn vì chúng đều biểu thị ý nghĩa thời điểm. Ví dụ: Bây giờ hắn đã trở thành người không tuổi rồi (N.