So Sánh Tỷ Lệ Sử Dụng Thuốc Chống Huyết Khối Giữa Nhóm Có Suy Yếu Và Không Suy Yếu Ở Người Cao Tuổi

Tài liệu nghiên cứu So sánh tỉ lệ sử dụng thuốc chống huyết khối giữa nhóm có suy yếu và không suy yếu theo thang điểm, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Nội Khoa (Lão Khoa)

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Y học

2022

123
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về RN

1.2. Tổng quan về RN và đột quỵ

1.3. Đại cương về hội chứng suy yếu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Định nghĩa các biến số

2.4. Xử lý phân tích số liệu

2.5. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm dân số xã hội

3.2. Phân tầng nguy cơ đột quỵ và xác định tỉ lệ sử dụng thuốc chống huyết khối theo thang điểm CHA2DS2-VASc trên bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim theo đúng khuyến cáo

3.3. Phân tầng nguy cơ xuất huyết và xác định tỉ lệ sử dụng thuốc chống huyết khối theo thang điểm HAS-BLED trên bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh lí van tim

3.4. So sánh tỷ lệ dùng thuốc chống huyết khối giữa nhóm có suy yếu và không suy yếu theo thang điểm lâm sàng Canada ở bệnh nhân cao tuổi có rung nhĩ không do bệnh lý van tim

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: Phiếu thu thập số liệu

PHỤ LỤC 2: Danh sách bệnh nhân tham gia nghiên cứu bệnh viện Thống Nhất

PHỤ LỤC 3: Danh sách bệnh nhân tham gia nghiên cứu bệnh viện Đại học Y dược

PHỤ LỤC 4: Danh sách bệnh nhân tham gia nghiên cứu bệnh viện Nhân dân Gia Định

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tỷ Lệ Sử Dụng Thuốc Chống Huyết Khối Ở Người Cao Tuổi

Tỷ lệ sử dụng thuốc chống huyết khối ở người cao tuổi là một vấn đề quan trọng trong y học hiện đại. Nghiên cứu cho thấy rằng người cao tuổi có nguy cơ cao mắc các bệnh lý tim mạch, đặc biệt là rung nhĩ. Việc sử dụng thuốc chống huyết khối có thể giúp giảm thiểu nguy cơ đột quỵ. Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng thuốc này vẫn còn thấp, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi có tình trạng sức khỏe yếu. Điều này đặt ra nhiều thách thức cho các bác sĩ trong việc điều trị và quản lý bệnh nhân.

1.1. Đặc Điểm Dân Số Người Cao Tuổi Tại Việt Nam

Dân số người cao tuổi tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng. Theo thống kê, tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm khoảng 7,7% dân số. Sự gia tăng này kéo theo nhiều vấn đề sức khỏe, trong đó có nguy cơ mắc rung nhĩ và các bệnh lý tim mạch khác.

1.2. Tình Trạng Sử Dụng Thuốc Chống Huyết Khối

Mặc dù có nhiều lợi ích từ việc sử dụng thuốc chống huyết khối, nhưng tỷ lệ sử dụng ở người cao tuổi vẫn còn thấp. Nghiên cứu cho thấy chỉ khoảng 55% bệnh nhân rung nhĩ có nguy cơ thuyên tắc được điều trị bằng thuốc kháng đông.

II. Vấn Đề Suy Yếu Ở Người Cao Tuổi Và Tác Động Đến Sử Dụng Thuốc

Suy yếu ở người cao tuổi là một vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến khả năng sử dụng thuốc chống huyết khối. Những người cao tuổi suy yếu thường có nhiều bệnh lý đi kèm, làm tăng nguy cơ xuất huyết khi sử dụng thuốc. Việc đánh giá tình trạng sức khỏe tổng quát là rất cần thiết để quyết định liệu có nên sử dụng thuốc hay không.

2.1. Định Nghĩa Và Các Dấu Hiệu Của Suy Yếu

Suy yếu được định nghĩa là tình trạng giảm khả năng hoạt động và sức khỏe tổng quát. Các dấu hiệu bao gồm giảm cân, mệt mỏi, và giảm sức mạnh cơ bắp. Những dấu hiệu này có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ ở người cao tuổi.

2.2. Nguy Cơ Xuất Huyết Khi Sử Dụng Thuốc

Người cao tuổi có tình trạng suy yếu thường có nguy cơ xuất huyết cao hơn khi sử dụng thuốc chống huyết khối. Điều này đòi hỏi bác sĩ phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi chỉ định thuốc cho nhóm bệnh nhân này.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tỷ Lệ Sử Dụng Thuốc Chống Huyết Khối

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp cắt ngang để so sánh tỷ lệ sử dụng thuốc chống huyết khối giữa nhóm người cao tuổi có và không suy yếu. Dữ liệu được thu thập từ các bệnh viện lớn và phân tích theo các thang điểm CHA2DS2-VASc và HAS-BLED.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp cắt ngang, cho phép thu thập dữ liệu từ nhiều bệnh nhân trong một khoảng thời gian ngắn. Điều này giúp đánh giá nhanh chóng tỷ lệ sử dụng thuốc.

3.2. Phân Tầng Nguy Cơ Đột Quỵ

Sử dụng thang điểm CHA2DS2-VASc để phân tầng nguy cơ đột quỵ cho bệnh nhân. Thang điểm này giúp xác định những bệnh nhân có nguy cơ cao cần được điều trị bằng thuốc chống huyết khối.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tỷ Lệ Sử Dụng Thuốc Chống Huyết Khối

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sử dụng thuốc chống huyết khối ở nhóm người cao tuổi có suy yếu thấp hơn so với nhóm không suy yếu. Điều này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện việc quản lý thuốc cho nhóm bệnh nhân này.

4.1. Tỷ Lệ Sử Dụng Thuốc Ở Nhóm Có Suy Yếu

Tỷ lệ sử dụng thuốc chống huyết khối ở nhóm bệnh nhân có suy yếu chỉ đạt khoảng 35%. Điều này cho thấy sự thiếu hụt trong việc điều trị cho nhóm bệnh nhân này.

4.2. Tỷ Lệ Sử Dụng Thuốc Ở Nhóm Không Suy Yếu

Ngược lại, tỷ lệ sử dụng thuốc ở nhóm không suy yếu cao hơn, đạt khoảng 55%. Điều này cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong việc tiếp cận điều trị giữa hai nhóm.

V. Kết Luận Về Tỷ Lệ Sử Dụng Thuốc Chống Huyết Khối

Việc so sánh tỷ lệ sử dụng thuốc chống huyết khối giữa nhóm người cao tuổi có và không suy yếu cho thấy sự cần thiết phải cải thiện quản lý thuốc cho nhóm bệnh nhân suy yếu. Cần có các biện pháp can thiệp để tăng cường việc sử dụng thuốc cho nhóm này nhằm giảm thiểu nguy cơ đột quỵ.

5.1. Đề Xuất Giải Pháp Cải Thiện

Cần có các chương trình giáo dục cho bác sĩ và bệnh nhân về lợi ích của việc sử dụng thuốc chống huyết khối. Điều này có thể giúp tăng cường tỷ lệ sử dụng thuốc ở nhóm bệnh nhân cao tuổi.

5.2. Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phát triển các phương pháp điều trị cá nhân hóa cho người cao tuổi, đặc biệt là những người có tình trạng sức khỏe yếu. Điều này sẽ giúp cải thiện kết quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ đột quỵ.

09/07/2025
So sánh tỉ lệ sử dụng thuốc chống huyết khối giữa nhóm có suy yếu và không suy yếu theo thang điểm lâm sàng canada ở người cao tuổi rung nhĩ không do bệnh lý van tim

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TỔNG QUAN VỀ RN 1.1 Định nghĩa Theo hội tim mạch châu Âu (ESC) RN là tình trạng rối loạn nhịp có đặc điểm sau: - Khoảng RR bất thường hoàn toàn trên điện tâm đồ (ECG) bề mặt, vì vậy RN còn được gọi là rối loạn nhịp hoàn toàn. - Mất sóng p trên ECG bề mặt , có thể nhận biết ở nhiều chuyển đạo, thường ở chuyển đạo V1. Theo hội tim mạch Hoa Kỳ (ACC/AHA) RN được định nghĩa theo 2 phương diện sau: - RN là một rối loạn nhịp trên thất được đặc trưng bởi sự hoạt hóa vô tổ chức của tâm nhĩ với hệ quả là sự suy giảm các chức năng cơ học của các tâm nhĩ. - Về phương diện điện tâm đồ: RN đặc trưng bởi sự thay thế các sóng p đều đặn bằng các sóng f khác nhau về hình dạng, kích thước và thời gian, thường kèm theo đáp ứng thất nhanh khi dẫn truyền nhĩ nguyên vẹn.

Rung nhĩ được xem là không do bệnh van tim khi không có sự hiện diện của hẹp van 2 lá hậu thấp, van tim nhân tạo cơ học hoặc sinh học hoặc phẫu thuật sửa van 2 lá [46], [48].2 Dịch tể Theo thời gian, tần suất mắc bệnh và tỷ lệ tử vong do RN ngày càng tăng. Số bệnh nhân RN ước tính hiện nay ở châu Âu là 4,5 triệu người. Ở Nhật theo một số điều tra 2008 cho thấy tần suất lưu hành RN trong dân số trường thành là 1,63%. Tỉ lệ mắc mới tăng theo mỗi 10 năm tuổi thọ được chứng minh trong đoàn hệ nghiên cứu Framingham[50].

RN < 0,5% ở người < 50 tuổi, tăng lên khoảng 2% ở dân số 60-69 tuổi, 4,6% ở lứa tuổi. 6 70-79 và 8,8% ở ngưởi 80-89 tuổi. Kèm theo đó nguy cơ đột quị do RN sẽ tăng theo tuổi, từ mức 1,5% ở tuổi 50 - 59, lên tới 23,5% ở tuổi từ 80 – 89. Tần suất lưu hành RN ngày càng tăng do các nguyên nhân như dân số thế giới ngày càng già di, cũng như tần suất lưu hành các bệnh tim mạch mạn và các yếu tố nguy cơ của rung nhĩ ngày càng tăng.

Theo số liệu từ các nghiên cứu [20], [25], [26], [64], [74], số người bị ảnh hưởng do RN trên thế giới là 33 triệu và có khoảng 5 triệu ca mắc mới mỗi năm. Nguy cơ đột quỵ ở những bệnh nhân RN là 0,5%-9,3% mỗi năm. Tỉ lệ mắc của rung nhĩ từ 0,4-1% trong dân số nói chung, ngày càng tăng cùng với tuổi tác [31]. Nghiên cứu cắt ngang đã tìm thấy một tỉ lệ 1% ở những người có độ tuổi dưới 60, tăng lên 4% ở độ tuổi trên 60 và tăng 10% trong những người lớn hơn 80 tuổi.

Nam mắc nhiều hơn nữ, tuổi trung bình của bệnh nhân mắc rung nhĩ 75 tuổi [81], [34]. Bệnh lý thường xuất hiện kèm theo nhất với RN là tăng huyết áp, suy tim, bệnh lý van tim và bệnh mạch vành. RN không có bệnh lý đi kèm và xảy ra ở người trẻ tuổi, được gọi là rung nhĩ đơn thuần với ít nguy cơ liên quan đến bệnh suất và tử suất. Tuy nhiên, RN đơn thuần chiếm tỉ lệ không cao trong dân số RN, chỉ khoảng 10% [36].

RN liên quan với tăng nguy cơ của đột quỵ, suy tim và tất cả các nguyên nhân tử vong, đặc biệt là ở phụ nữ .Tỉ lệ tử vong của bệnh nhân RN là gấp đôi so với những bệnh nhân nhịp xoang bình thường và liên kết với mức độ nghiêm trọng của bệnh lý tim. Trong nghiên cứu đoàn hệ Valsartan Heart Failure Trials (Val- HeFT) cho thấy ở bệnh nhân suy tim có rung nhĩ làm tăng kết cục xấu của bệnh, suy tim thúc đẩy rung nhĩ và ngược lại [71] Trong nghiên cứu ARITOTLE (Apixaban đẻ giảm nguy cơ đột quỵ và và nguy cơ tạo huyết khối trong RN) [18], ENGAGE-AF (chống đông với. 7 yếu tố Xa thế hệ tiếp theo trong RN) [58] và ROCKET-AF (Rivaroxaban một lần hằng ngày so nánh với thuốc kháng Vitamin K) [45] đều cho thấy tỉ lệ đột quỵ ở BN RN kịch phát thấp hơn so với BN RN dai dẳng với giá trị lần lượt là p= 0,015, p=0,015, p=0,048. Rung nhĩ làm tăng nguy cơ tương đối nhồi máu não lên từ 2 đến 7 lần và làm tăng nguy cơ tử vong lên 1,9 đến 2,5 lần.

Nguy cơ đột quỵ của bệnh nhân rung nhĩ vào khoảng 5% và tăng lên theo tuổi [50], [75]. Theo một nghiên cứu được thực hiện ở nước Anh, theo dõi hơn 375000 bệnh nhân nhập viện vì đột quỵ trong 10 năm từ 2006 đến 2016 thì có 14,9% có chuẩn đoán la RN kèm theo. Trong đó nam giới chiếm 49,1%, tuổi trung bình là 81,1 tuổi [27].3 Phân loại Theo Trường Môn Tim Hoa Kì và Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ phối hợp với Hội Nhịp tim Hoa Kỳ (ACC/AHA/HRS 2014) [46], [47], [48], RN được chia thành các dạng: - RN cơn: RN kết thúc nhanh chóng hoặc tồn tại trong vòng 7 ngày kể từ khi xuất hiện. Các cơn rung nhĩ có thể xuất hiện trở lại với tần suất khác nhau - RN bền bỉ: RN xuất hiện liên tục kéo dài > 7 ngày.

- RN dai dẳng: RN liên tục kéo dài > 12 tháng. - RN mạn tính: khi bác sĩ và bệnh nhân cùng chấp nhận việc không thể chuyển nhịp và/hoặc duy trì nhịp xoang. - RN không do bệnh van tim: RN khi không có hẹp hai lá do thấp, không có van tim cơ học hoặc sinh học hoặc sửa van hai lá.4 Cơ chế điện học RN. 8 Moe và các cộng sự [79], [80] đưa ra giả thuyết về cơ chế của RN và vòng vào lại đa sóng nhỏ.

Cơ chế này được chứng minh bằng mô hình điện tử và bằng khảo sát ghi bản đồ ở tâm nhĩ. Có 3 cơ chế của RN - Vào lại đơn độc, ổn định vòng nhỏ. - Vào lại đa sóng nhỏ, không ổn định. - Ổ đơn độc phát ra các sóng có chu kỳ ngắn.

Kích thích ổ phát nhịp Vòng vào lại đa sóng nhỏ Hình 1.1 Hai cơ chế của rung nhĩ “Nguồn: Konings KT et al.5 Các yếu tố nguy cơ của RN Kể cả những người có lối sống lành mạnh và không mắc các bệnh lý nào khác cũng có thể bị rung nhĩ. Các yếu tố nguy cơ chính của rung nhĩ bao gồm: - Tuổi trên 60 - Tăng huyết áp - Bệnh động mạch vành - Suy tim - Bệnh lý van tim - Tiền sử phẫu thuật tim mở. 9 - Ngừng thở khi ngủ - Bệnh lý tuyến giáp - Đái tháo đường - Bệnh phổi mạn tính - Lạm dụng rượu hoặc sử dụng chất kích thích - Tình trạng nhiễm trùng hoặc bệnh lý nội ngoại khoa nặng 1.6 Chẩn đoán Triệu chứng lâm sàng: rung nhĩ có biểu hiện lâm sàng đa dạng ban đầu có thể là một biến chứng tắc mạch hay suy tim nặng lên nhưng hầu hết bệnh nhân có cảm giác hồi hộp, đau ngực, khó thở, mệt mỏi, chóng mặt hoặc không triệu chứng. Ngất là một biến chứng không thường gặp của rung nhĩ, có thể xảy ra trên bệnh nhân chuyển nhịp với hội chứng suy nút xoang hoặc bởi do đáp ứng thất nhanh ở bệnh nhân có bệnh cơ tim phì đại, ở bệnh nhân hẹp động mạch chủ, hoặc khi có đường dẫn truyền phụ.

Mặc dù đột quỵ được quy cho nhiều tổn thương chức năng liên quan với rung nhĩ và các dữ kiện đã có gợi ý rằng chất lượng cuộc sống giảm đáng kể ở bệnh nhân có rung nhĩ so với nhóm chứng cùng độ tuổi. Khám trên lâm sàng sẽ thấy nhịp tim và mạch đập không đều [23] [46], [47]. Chẩn đoán xác định chủ yếu dựa vào ECG thường quy 12 chuyển đạo: - Sóng p được thay bằng những sóng f lăn tăn. Các sóng này làm cho đường đẳng điện thành một đường sóng lăn tăn.

- Sóng f có đặc điểm: + Tần số không đều từ 300-600 chu kỳ/phút. + Các sóng f rất khác nhau về hình dạng, biên độ, thời gian. 10 + Thấy rõ sóng f ở các chuyển đạo trước tim phải (V1, V3R) và các chuyển đạo dưới (D2,D3,aVF), khó thấy ở các chuyển đạo trước tim trái (D1, aVL, V5, V6). + Nhịp thất rất không đều về tần số (các khoảng RR dài ngắn khác nhau) và rất không đều về biên độ, không theo quy luật nào cả.

Đó là hình ảnh loạn nhịp hoàn toàn. + Tần số nhanh chậm phụ thuộc vào dẫn truyền của nút nhĩ thất. + Hình dạng QRS thường hẹp, trên cùng một chuyển đạo có thể khác nhau về biên độ.7 Điều trị Kiểm soát tần số thất, chuyển RN về nhịp xoang và dự phòng huyết khối. - RN do bệnh van tim RN trên bệnh nhân có bệnh lý van tim bao gồm: Sử dụng van tim nhân tạo, phẫu thuật sửa van, hẹp van 2 lá mức độ vừa đến nặng bắt buộc dự phòng huyết khối bằng thuốc kháng vitamin K với INR cần đạt là 2.0 - RN không do bệnh lý van tim Chiến lược dự phòng huyết khối dựa trên các hệ thống phân tầng nguy cơ đột quỵ não.

Có rất nhiều thang điểm phân tầng nguy cơ đột quỵ , trước năm 2010 thang điểm CHADS2 được sử dụng rộng rãi nhất do đã được kiểm chứng và thang điểm CHA2DS2-VASc đã được sử dụng phổ biến từ 2010 đến nay. Cho dù điều trị theo chiến lược kiểm soát tần số, hay kiểm soát nhịp thì việc điều trị kháng đông để phòng ngừa huyết khối vẫn là chú ý hàng đầu. Đặc biệt trong khuyến cáo của Trường Môn Tim Hoa Kỳ và Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ phối hợp với Hội Nhịp tim Hoa Kỳ (ACC/AHA/HRS 2014, 2019) [46], [47], [48]. Khuyến cáo vai trò nổi bật của cắt đốt rung nhĩ bằng sóng tần số radio, đặc biệt như là điều trị đầu tiên ở những bệnh nhân rung.

11 nhĩ có nhiều triệu chứng, tái đi tái lại, điều trị bằng cắt đốt là lựa chọn điều trị kiểm soát nhịp (rhythm control) khởi đầu hợp lý hơn là thuốc chống loạn nhịp, sau khi đã tính toán lợi ích và nguy cơ của thuốc và điều trị cắt đốt (mức độ chứng cứ B). Điều trị kháng đông trên BN RN có yếu tố nguy cơ cao (CHA2DS2-VASc ≥ 2 ở nam và ≥ 3 ở nữ) thuộc nhóm khuyến cáo I và mức chứng cứ A.2 TỔNG QUAN VỀ RN VÀ ĐỘT QUỴ 1.1 Phân tầng nguy cơ đột quỵ trên bệnh nhân RN Đột quỵ được chia thành 3 loại cơ bản: đột quỵ thiếu máu não, đột quỵ xuất huyết não và cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua [17]. Đột quỵ là biến chứng hàng đầu của RN. Đột quỵ để lại hậu quả rất nặng nề thậm chí tử vong, tàn phế, gây ra gánh nặng rất lớn cho gia đình và xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "So Sánh Tỷ Lệ Sử Dụng Thuốc Chống Huyết Khối Ở Người Cao Tuổi Có Và Không Suy Yếu" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự khác biệt trong việc sử dụng thuốc chống huyết khối giữa hai nhóm người cao tuổi, một nhóm có tình trạng suy yếu và một nhóm không. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tỷ lệ sử dụng thuốc mà còn chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định điều trị, từ đó nâng cao nhận thức về sức khỏe cho người cao tuổi.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe người cao tuổi, bạn có thể tham khảo tài liệu Khảo sát tình trạng tăng canxi máu trên người cao tuổi mắc ung thư tại khoa điều trị giảm nhẹ bệnh viện chợ rẫy, nơi nghiên cứu tình trạng sức khỏe của người cao tuổi mắc bệnh ung thư. Bên cạnh đó, tài liệu Tỷ lệ và các yếu tố liên quan rối loạn đường huyết ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp không can thiệp động mạch vành 1 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tim mạch ở người cao tuổi. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thay đổi nhận thức về đột quỵ não của người cao tuổi tại xã giao lạc giao thủy nam định sau can thiệp giáo dục sức khỏe sẽ cung cấp thông tin về cách nâng cao nhận thức và phòng ngừa đột quỵ ở người cao tuổi. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe của người cao tuổi và các biện pháp can thiệp hiệu quả.