ĐẶT VẤN ĐỀ Đột quỵ não là bệnh lý rất thường gặp, bệnh cảnh ñột ngột, cấp tính, di chứng nặng nề, tỷ lệ tử vong cao ñứng hàng thứ ba sau bệnh ung thư và tim mạch. Theo Tổ chức y tế thế giới ước tính mỗi năm có khoảng hơn 15 triệu người bị ñột quỵ, trong ñó có khoảng hơn 5 triệu người tử vong và khoảng 5 triệu người bị tàn phế vĩnh viễn, dự báo ñến năm 2030 ñột quỵ não sẽ trở thành một trong những nguyên nhân hàng ñầu gây tử vong trên phạm vi toàn thế giới. Bệnh ñể lại những di chứng rất nặng nề, mất khả năng sống ñộc lập của người bệnh ảnh hưởng nhiều ñến kinh tế của gia ñình cũng như toàn xã hội [4],[34]. Theo thống kê ở Pháp hàng năm có 12% tử vong ở người già trong ñó ñột quỵ não ñứng hàng ñầu trong các nguyên nhân gây tử vong.
Tỷ lệ mới mắc ñột quỵ não ở Pháp là 145/100. Ở châu Á, tỷ lệ mới mắc ñột quỵ não: Nhật bản từ 340 – 523/100.000 dân; Trung quốc 219/100.000 dân; Ấn ñộ 13/100.000 dân; Mông cổ 8/100. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh ñột quỵ não ñang gia tăng ở mức ñáng lo ngại ở cả hai giới và các lứa tuổi. Tại miền Bắc Việt Nam theo Nguyễn Văn Đăng khảo sát 1.933 người dân cho thấy tỷ lệ mắc ñột quỵ ước tính là 115,92/100.
Tỷ lệ mới phát hiện là 28,25/100.000 người và tỷ lệ tử vong là 161/100. Qua ñiều tra của Lê Văn Thành và cộng sự trên 52.649 người ở các tỉnh phía Nam, thấy tỷ lệ ñột quỵ mới phát hiện là 161/100.000 người và tỷ lệ tử vong là 131/100. Tại Nam Định, theo thống kê phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Nam Định, năm 2015 có 1297 người bệnh ñột quỵ não trên tổng số 34.322 người bệnh ñiều trị chiếm 3,78%. Số người bệnh ñột quỵ não ñiều trị trong 9 tháng ñầu năm 2016 là 1.115 trên tổng số người bệnh là 27.
Tuy nhiên, tổ chức Y tế Thế giới ñã khẳng ñịnh Đột quỵ não là một trong những bệnh có khả năng dự phòng hiệu quả nếu nhận thức ñược các yếu tố nguy cơ 2 ñồng thời phát hiện sớm ñược các dấu hiệu ñột quỵ não và ñiều trị kịp thời sẽ có giá trị hạn chế tử vong, di chứng cho người bệnh. Tại Việt Nam hiện nay có rất ít nghiên cứu về can thiệp giáo dục nhằm thay ñổi nhận thức về ñột quỵ não cho người có yếu tố nguy cơ và hướng tới phòng ngừa ñột quỵ và rút ngắn thời gian trước nhập viện khi ñột quỵ xảy ra[25]. Bệnh ñột quỵ não có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi tuy nhiên tuổi già là yếu tố nguy cơ cao mắc bệnh ñột quỵ não. Tỷ lệ người cao tuổi ở nhiều nước trên thế giới ñang tăng nhanh [33].
Ở Việt Nam, tỷ lệ người cao tuổi ở nước ta tăng nhanh chóng trong ba thập kỷ qua, năm 1989 là 7,2%; năm 1999 là 8,3% và năm 2009 là 9,5% và hiện nay là trên 10% [1]. Nam Định là tỉnh phía nam ñồng bằng Bắc bộ với diện tích 1669 km2, dân số là 1.111 người, tỷ lệ người cao tuổi là 13%. Việc nâng cao nhận thức về ñột quỵ não cho người cao tuổi là rất quan trọng. Với mong muốn tìm hiểu về nhận thức và can thiệp giáo dục sức khỏe cho người cao tuổi về bệnh lý này chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài: ''Thay ñổi nhận thức về ñột quỵ não của người cao tuổi tại xã Giao Lạc - Giao Thủy - Nam Định sau can thiệp giáo dục sức khoẻ'' 3 MỤC TIÊU 1.
Mô tả thực trạng nhận thức ñột quỵ não của người cao tuổi tại xã Giao Lạc – Giao Thủy – Nam Định. Đánh giá sự thay ñổi nhận thức về ñột quỵ não của người cao tuổi tại xã Giao Lạc – Giao Thủy – Nam Định sau can thiệp giáo dục sức khỏe. 4 Chuơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương ñột quỵ não.
Định nghĩa và phân loại ñột quỵ não. Theo Tổ chức Y tế thế giới công bố năm 1976, ñột quỵ não là sự xảy ra ñột ngột các thiếu sót chức năng thần kinh, thường là khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại quá 24 giờ hoặc gây tử vong trong vòng 24h, các khám xét loại trừ nguyên nhân do chấn thương sọ não [3]. Đột quỵ não bao gồm thiếu máu não và chảy máu não, trong ñó có khoảng 85% là ñột quỵ thiếu máu. Đây là bệnh lý thường gặp ñặc biệt là các nước phát triển và là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng ñầu trên thế giới, nếu qua khỏi thì thường ñể lại di chứng nặng nề và là gánh nặng cho gia ñình và cho xã hội.
Theo cập nhật ñịnh nghĩa ñột quỵ não của thế kỷ 21 ñịnh nghĩa ñột quỵ não như sau:[31]. ` Định nghĩa nhồi máu hệ thần kinh trung ương: Là tế bào não, tủy sống hoặc võng mạc bị chết do thiếu máu, xác ñịnh dựa vào: 1. Giải phẫu bệnh, hình ảnh học, hoặc bằng chứng bổ trợ khác về tổn thương ở não, tủy sống hoặc võng mạc do thiếu máu cục bộ thuộc vùng phân bố một ñộng mạch xác ñịnh. Bằng chứng lâm sàng tổn thương thiếu máu cục bộ não, tủy sống hoặc võng mạc dựa trên các triệu chứng tồn tại ≥ 24 giờ hoặc tới khi tử vong, loại trừ các nguyên nhân khác.
Định nghĩa ñột quỵ thiếu máu: Là một giai ñoạn rối loạn chức năng thần kinh do nhồi máu khu trú não, tủy sống hoặc võng mạc. 5 Định nghĩa nhồi máu não thầm lặng hệ thần kinh trung ương: Có bằng chứng chẩn ñoán hình ảnh hoặc giải phẫu bệnh của nhồi máu hệ thần kinh trung ương mà không có biểu hiện rối loạn chức năng thần kinh cấp tính liên quan tới tổn thương. Định nghĩa chảy máu trong não: Là sự hình thành ổ máu tụ khu trú trong nhu mô não hoặc hệ thống não thất không do chấn thương. (Ghi chú: chảy máu não bao gồm cả chảy máu nhu mô não sau nhồi máu hệ thần kinh trung ương type I và II.
Xem: nhồi máu não chảy máu. Định nghĩa ñột quỵ do chảy máu não: Các triệu chứng rối loạn chức năng thần kinh phát triển nhanh liên quan tới ổ máu tụ khu trú trong nhu mô não hoặc hệ thống não thất hình thành không do chấn thương. Định nghĩa chảy máu não thầm lặng: Có sự tồn tại các sản phẩm thoái giáng máu mạn tính trên chẩn ñoán hình ảnh hoặc giải phẫu bệnh ở nhu mô não, khoang dưới nhện hoặc não thất; không do nguyên nhân chấn thương; không có tiền sử triệu chứng rối loạn thần kinh cấp tính liên quan tới tổn thương ñó. Định nghĩa chảy máu dưới nhện: Là máu chảy vào khoang dưới nhện (khoang giữa màng nhện và màng mềm của não hoặc tủy sống).
Định nghĩa ñột quỵ do chảy máu dưới nhện: Là sự phát triển nhanh chóng các triệu chứng thần kinh và/hoặc ñau ñầu do máu chảy vào khoang dưới nhện (khoang giữa màng nhện và màng mềm của não hoặc tủy sống), không do nguyên nhân chấn thương. Định nghĩa ñột quỵ do huyết khối xoang tĩnh mạch não: Nhồi máu hoặc chảy máu trong não, tủy sống hoặc võng mạc do huyết khối ở hệ thống tĩnh mạch não. Các triệu chứng do quá trình phù não có hồi phục (reversible edema), không bị nhồi máu hoặc chảy máu thì không coi là ñột quỵ. Dịch tễ học của ñột quỵ não.
Tình hình bệnh ñột quỵ trên thế giới. Đột quỵ não là bệnh lý thần kinh thường gặp ở người lớn tuổi trên khắp thế 6 giới, ñột quỵ là nguyên nhân ñứng hàng thứ nhất trong các bệnh lý về thần kinh. Ngày nay nhờ những tiến bộ về chẩn ñoán và ñiều trị ñã và ñang làm giảm tỷ lệ tử vong ñột quỵ. Tuy nhiên tỷ lệ hiện mắc và và tàn phế do ñột quỵ vẫn còn cao.
Theo tổ chức y tế thế giới cứ 45 giây trôi qua có ít nhất một người bị ñột quỵ não, trong lần ñột quỵ ñầu tiên khoảng 1/3 có thể tử vong, 1/3 bị tàn phế nặng và các lần ñột quỵ tái phát làm nguy cơ tử vong và tàn phế cao hơn [34]. Ở Mỹ, tần suất ñột quỵ não hiện nay là khoảng trên 795.000 là ñột quỵ ñầu tiên hoặc mới. Qua nhiều năm nỗ lực với tiến bộ chẩn ñoán và ñiều trị ñã hạ thứ tự tử vong từ thứ 3 xuống thứ 4 (sau bệnh tim mạch ung thư và bệnh phổi mạn tính). Theo ước tính, cứ khoảng 40 giây có một người Mỹ bị tai biến mạch não và cứ khoảng 4 phút có một người tử vong vì bệnh lý này, ước tính chi phí trực tiếp và gián tiếp cho ñột quỹ não tốn của Mỹ khoảng 34 tỷ $ mỗi năm, năm 2009 là 38,6 tỷ ñôla [22].
Tình hình bệnh ñột quỵ não tại Việt Nam. Tại Việt Nam theo Lê Đức Hinh, mỗi năm có tới 200.000 trường hợp ñột quỵ, trong ñó có tới 90% người bệnh phải chịu di chứng nặng nề… Người bệ nh ñột quỵ thường hay bị tái phát và lần sau nặng hơn lần trước. Nguyên nhân là do việc chẩn ñoán, xử trí và quản lý người bệnh ñột quỵ còn gặp nhiều khó khăn, bên cạnh ñó, kiến thức về căn bệnh này của người dân còn hạn chế. Chính vì vậy, cho dù y học có nhiều sự tiến bộ, giúp tỷ lệ tử vong do ñột quỵ gây ra ñã giảm nhiều nhưng số lượng người bệnh bị tàn tật do ñột quỵ lại có xu hướng tăng cao.
Mức ñộ di chứng phụ thuộc rất nhiều vào thời ñiểm và cách thức người bệnh ñược phát hiện, chẩn ñoán và ñiều trị [4].`11 Với phác ñồ ñiều trị tiên tiến hiện nay, nếu người bệnh ñược chuyển ñến bệnh viện trong 3 giờ ñầu ngay sau khi bị ñột quỵ và ñược ñiều trị thuốc làm tan huyết khối sự phục hồi sẽ rất khả quan. Tuy nhiên, theo Nguyễn Văn Thông, chỉ có khoảng dưới 1% người bệnh bị ñột quỵ ñược ñiều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết ñúng cách trước khi ñến bệnh viện [4]. 7 Theo Nguyễn Văn Đăng, tại khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai từ năm 1991 ñến năm 1993 có 631 trường hợp Đột quỵ não, tăng gấp 2,5 lần so với thời kỳ 1986 - 1989 và tỷ lệ mới mắc là 53,2/100000 dân/ năm. Các dấu hiệu báo ñộng ñột quỵ não[4], [8], [16], [21].
Đột quỵ não là một cấp cứu y tế khẩn cấp. Vì vậy khi phát hiện các dấu hiệu báo ñộng ñột quỵ, cần chuyển ngay tới các cơ sở y tế gần nhất sẽ giúp giảm tỷ lệ tử vong và tàn phế [8], [16]. – Đột ngột tê hoặc yếu nửa mặt, một tay hoặc chân, ñặc biệt là cùng một bên của cơ thể.