CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỪ TƯỢNG THANH TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT 16 Xã hội ngày nay đang biến đổi đi lên một cách không ngừng. Do đó giao tiếp trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong xã hội. Giao tiếp giúp con người xích lại gần nhau, cùng nhau trao đổi thông tin, học hỏi kinh nghiệm, chia sẻ cảm xúc, cùng nhau tổ chức công tác chung trên mọi lĩnh vực hoạt động. Xã hội càng phát triển cách thức giao tiếp càng trở nên phong phú, đa dạng.
Từ những cử chỉ, động tác đơn giản (vẫy tay, gật đầu, khoác vai, nháy mắt…), chúng ta đã có thêm các loại dấu hiệu, kí hiệu khác nhau (kí hiệu toán học, đèn tín hiệu giao thông, tín hiệu hàng hải…), sự kết hợp hài hòa giữa các nốt nhạc (âm nhạc), sự hòa quyện pha phối sắc màu (hội họa) hay sự khéo léo trong từng đường nét chạm trổ (điêu khắc), đặc biệt là sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông (tivi, máy hát, báo đài, internet…). Thế nhưng các phương tiện ấy sẽ không phát huy được hết công dụng nếu như không có sự ra đời của ngôn ngữ. Mỗi một quốc gia có những cách thức giao tiếp, phong tục tập quán và ngôn ngữ riêng. Có những cử chỉ một số người hiểu với nhau, nhưng nhiều khi “ý nghĩa” của các cử chỉ không rõ ràng rất dễ dẫn đến hiểu nhầm.
Những kí hiệu và dấu hiệu thì cũng chỉ được áp dụng trong những phạm vi hạn chế. Âm nhạc, hội họa, điêu khắc cũng không thể truyền đạt khái niệm và tư tưởng mà chỉ khơi gợi chúng trên cơ sở những âm thanh, hình ảnh. Chính sự mơ hồ, không rõ rệt đó gây ra sự khác nhau trong cách cảm nhận, cảm thụ của mỗi người nghe, người xem. Do đó cần phải có ngôn ngữ để giải thích các kí hiệu hay các tác phẩm nghệ thuật.
Vì vậy có thể nói ngôn ngữ là chiếc chìa khóa giao tiếp vạn năng của con người. Dù là ngôn ngữ của bất kì quốc gia nào, từ vựng luôn là một bộ phận cấu thành quan trọng của ngôn ngữ. Do đó, việc am hiểu từ vựng là nhu cầu thiết yếu quyết định hiệu quả trong học tập và nghiên cứu ngôn ngữ cũng như thành công trong giao tiếp. Có thể nói đặc điểm nổi bật nhất trong tiếng Việt và tiếng Nhật chính là sự phong phú về các loại từ vựng.
Chính đặc điểm này đã ít nhiều gây sự khó khăn cho người học. Tuy nhiên nếu người học biết sử dụng từ vựng đúng cách, đúng tình huống sẽ 17 tạo ấn tượng tốt với đối phương. Trong kho ngôn ngữ riêng của mỗi một quốc gia nhất định luôn để dành cho từ tượng thanh một vị trí ưu ái, đặc biệt. Đối với bất kỳ ai việc học tập từ tượng thanh đều nhận ra điều thú vị ở chúng.
Thú vị ở chỗ khi ta đọc các từ ấy lên ta có thể nghe thấy các âm gần giống với âm thanh thật sự ngoài đời, giúp ta có thể hình dung rõ tình trạng sự việc xung quanh âm thanh đó. Thú vị là thế nhưng không phải hoàn toàn đơn giản cho người nước ngoài học ngôn ngữ khác tiếng mẹ đẻ. Tuy nhiên mỗi một từ vựng nói chung hay từ tượng thanh nói riêng cả trong tiếng Việt và tiếng Nhật đều ẩn chứa tâm hồn và suy nghĩ của mỗi dân tộc. Vì thế, am hiểu từ vựng là người học đã xây xong một nửa chiếc cầu nối hữu dụng giúp con người hiểu và gần nhau hơn, làm cho cả thế giới dần trở thành một ngôi làng nhỏ.1 Từ tượng thanh trong tiếng Việt 1.1 Định nghĩa từ tượng thanh trong tiếng Việt “Từ tượng thanh là từ mô phỏng âm thanh của tự nhiên, của con người.” [10;49] “Từ tượng thanh là từ phỏng theo âm thanh trong tự nhiên, thực tế.” [11;1770] Hai định nghĩa trên được trích từ cuốn sách “Ngữ Văn 8”, là sách giáo khoa của chương trình dạy và học trung học cơ sở, và từ cuốn “Đại từ điển tiếng Việt”.
Do đó có thể cho rằng độ tin cậy về nội dung định nghĩa là khá cao. So sánh hai định nghĩa trên ta cũng nhận thấy hai định nghĩa này gần như giống nhau hoàn toàn về nội dung. Định nghĩa ngắn gọn, súc tích, không sử dụng tiếng lóng hay từ địa phương giúp người xem dễ dàng hiểu vấn đề. Các âm thanh, tiếng động, tiếng vang trong cuộc sống hàng ngày, trong thế giới tự nhiên xung quanh ta cũng như âm thanh của chính con người được tái hiện một cách sống động qua từ tượng thanh.
Tùy từng vào loại âm thanh đi qua tai nghe của con người để từ đó họ xử lý và tìm các âm tiết, thanh điệu phù hợp để mô phỏng âm thanh đó. Tại sao lại cần có một quá trình như vậy? Bởi vì chỉ có những từ gợi tả âm thanh gần và giống với âm thanh thực thì từ đó mới có nghĩa, mới có thể làm cho người nghe hiểu được đó là âm thanh nào, từ đâu phát ra. Hay nói cách khác đó chính là chức năng gọi tên sự vật của từ tượng thanh. Sau đây là hai ví dụ đại diện cho các từ tượng thanh trong tiếng Việt: Ví dụ 1: Đoạn trích mô phỏng một số âm thanh sinh động ở bãi trồng lạc trong tác phẩm “Mùa lạc” của nhà văn Nguyễn Khải: “Đây là điểm sinh động nhất của toàn bãi: tiếng chân đạp trên bàn gỗ rình rịch, tiếng vòng trục quay ù ù của ba cái máy tuốt lạc, tiếng bàn cào rê lạo sạo trên mình vỏ lạc thu gọn lại ở khoảng giữa.
Mùi hăng của thân lạc tươi mới xếp lớp lớp trên các cáng…” [6; 128] Những từ tượng thanh ở ví dụ 1 là: 19 - Rình rịch: mô phỏng âm thanh phát ra khi chân đạp vào cái bàn gỗ. - Ù ù: mô phỏng âm thanh phát ra từ cái máy tuốt lạc. - Lạo sạo: mô phỏng âm thanh phát ra từ cái cào khi rê vỏ lạc trên nền sân. Ví dụ 2: Đoạn thơ miêu tả cảnh trời mưa trong bài thơ “Mưa” của nhà thơ Trần Đăng Khoa: “ Mưa Mưa Ù ù như xay lúa Lộp bộp Lộp bộp… Rơi Rơi.” [5; 38] Những từ tượng thanh ở ví dụ 2 là: - Ù ù, lộp bộp: mô phỏng những âm thanh khác nhau khi mưa.
Mỗi âm thanh đều có từ tượng thanh thể hiện chúng, như tiếng kêu của tàu hỏa, tiếng nói của người hay tiếng mưa rơi ở hai ví dụ trên. Như vậy một hiện tượng tự nhiên như là mưa cũng có rất nhiều từ để mô phỏng tiếng mưa: ù ù, lộp bộp hoặc là ào ào, rả rich,… Tuy nhiên một từ tượng thanh cũng có thể dùng cho nhiều trường hợp khác nhau. Chẳng hạn như từ ù ù ở ví dụ 2 là mô phỏng tiếng mưa hòa với tiếng gió, nhưng từ ù ù còn có thể là từ mô phỏng tiếng cối xay lúa, tiếng máy bay… Cho nên để phân biệt chúng nhất thiết phải đặt từ vào từng tình huống, trường hợp cụ thể. Và để dễ dàng nhận biết chúng thì ta cần phải biết được các đặc điểm cũng như công dụng của chúng.2 Đặc điểm cấu tạo và công dụng của từ tượng thanh trong tiếng Việt Từ tượng thanh là những từ miêu tả, mô phỏng âm thanh cụ thể - những thứ có thể tri giác trực tiếp được bằng thính giác.
Có thể cấu tạo theo kiểu: - Từ đơn. Ví dụ 5: Cảnh chờ chuyến tàu đêm của hai chị em An trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam: “An nhỏm dậy, lấy tay dụi mắt cho tỉnh hẳn. Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi. Một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếp đến tiếng hành khách ồn ào, khe khẽ.
- Rít: mô phỏng âm thanh phát ra cao, thành hồi dài, nghe chói tai (từ đơn). - Ồn ào, khe khẽ: mô phỏng tiếng nói của nhiều và ít người (từ láy). Từ các ví dụ cho thấy chủ yếu các từ tượng thanh được cấu tạo theo cơ chế láy, có thể là láy hoàn toàn, láy bộ phận (gồm láy âm và láy vần), láy ba hay láy tư: - Láy hoàn toàn: là dạng láy có sự đồng nhất, tương ứng hoàn toàn giữa các thành phần cấu tạo của hai thành tố, như đùng đùng, oang oang, rào rào, …[4; 92] - Láy bộ phận: là dạng láy có sự phối hợp ngữ âm của từng bộ phận âm tiết theo những quy tắc nhất định, bao gồm láy âm (âm đầu được láy lại, như là xì xào, rúc rích, tí tách,…) và láy vần (phần vần trùng lặp hai âm tiết còn phụ âm đầu khác biệt, như lầu bầu, lào xào, lịch kịch,…) [4; 98, 102] 21 - Láy ba: là dạng láy có ba tiếng có sự hòa phối ngữ âm với nhau, như là ò ó o,…[4; 107] - Láy tư: là dạng láy chứa bốn tiếng trong thành phần cấu tạo, như là rì rà rì rầm, đì đà đì đùng, lộc cà lộc cộc, …[4; 112] Đây là một cơ chế được hình thành dựa trên phương thức hòa phối ngữ âm và đã sản sinh ra một số lượng từ khá lớn trong tiếng Việt. Có được sự phong phú như vậy là do sự biến âm, biến vần và biến thanh theo những quy luật chặt chẽ và có tác dụng tạo nghĩa, tạo nên sự dễ đọc, dễ nghe, dễ hiểu.
Có những từ tượng thanh chỉ đơn giản là sự bắt chước, sự mô phỏng trực tiếp, gần đúng với âm thanh tự nhiên như là eng éc, meo meo, oe oe,…Một số từ tượng thanh, mặc dù mô phỏng âm thanh nhưng có chức năng gọi tên sự vật, hiện tượng hay quá trình phát ra âm thanh. Đó là những từ láy tượng thanh đã được chuyển nghĩa theo phép hoán dụ để biểu trưng cho bản thân sự vật, hiện tượng hay quá trình phát ra âm thanh. Những từ này có thể là danh từ, như tu hú, cút kít, bình bịch, bìm bịp, …có thể là tính từ như chát chúa, hoặc động từ như rì rào, xào xạc, bì bõm, … Từ tượng thanh được sản sinh ra do nhu cầu mô phỏng các âm thanh của nên hiệu quả của từ tượng hình, tượng thanh mang lại rất đáng kể. Chúng gợi được âm thanh, hình ảnh một cách cụ thể, sinh động, có giá trị biểu cảm cao.
Vì thế chúng thường được dùng trong thơ ca, âm nhạc, văn miêu tả và tự sự.3 Một số phân loại từ tượng thanh trong tiếng Việt Ở ngôn ngữ nào cũng vậy, từ tượng thanh là một phần không thể thiếu được trong vốn từ vựng. Theo nhận xét của B.Serebrenikov, những động từ tượng thanh hay gặp hơn danh từ tượng thanh hay tính từ tượng thanh.