phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận án gồm 4 chương và 9 tiết. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Để tìm hiểu về tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn (黎貴惇, 1726~1784) và Jeong Yak Yong (丁若鏞, Đinh Nhược Dung, 1762~1836) - hai nhà nho, nhà chính trị và nhà tư tưởng tiêu biểu của Việt Nam và Hàn Quốc, và để có thể so sánh được tư tưởng của hai học giả, trước hết ta phải xem xét đến bối cảnh lịch sử và đời sống tư tưởng, sau đó xem xét thế giới quan và nhân sinh quan của mỗi học giả, và các khía cạnh của tư tưởng chính trị của họ. Đã có nhiều nghiên cứu về những vấn đề đó ở mỗi quốc gia về mỗi nhà tư tưởng đều đã được tiến hành ở các mức độ khác nhau, nhưng việc nghiên cứu Lê Quý Đôn ở Hàn Quốc cũng như nghiên cứu Jeong Yak Yong ở Việt Nam, hoặc nghiên cứu so sánh giữa hai học giả, mới chỉ có một số thành tựu bước đầu. Do đó, để thuận tiện, chúng tôi sẽ xem xét tình hình nghiên cứu ở mỗi nước riêng biệt và cả một số nghiên cứu gần đây so sánh giữa hai học giả, trong các mảng đề tài tương đương với các bước triển khai của luận án: nghiên cứu về bối cảnh lịch sử và tư tưởng, nghiên cứu về triết học của hai học giả, nghiên cứu về tư tưởng chính trị của hai học giả.
Tổng quan tình hình nghiên cứu về Lê Quý Đôn Theo ý kiến của phần đông các nhà nghiên cứu Việt Nam, Lê Quý Đôn là tác gia có số lượng tác phẩm nhiều nhất trong số các nhà tư tưởng trước thời Nguyễn. Số lượng các tác phẩm của ông còn lại đến nay - dù trải qua thời kỳ khó khăn khi bị nhà Nguyễn kỳ thị và thậm chí ra lệnh tiêu huỷ - vẫn còn khá nhiều. Dựa trên di sản này, cùng với nhiều tài liệu về thời kỳ sinh thời Lê Quý Đôn, về tư tưởng Việt Nam nói chung, v.v… các công trình nghiên cứu về Lê Quý Đôn đã được tiến hành và cho đến nay đã có được những thành tựu đáng kể. Ở đây chúng tôi xem xét các công trình cho thấy điều kiện và tiền đề hình thành tư tưởng của Lê Quý Đôn – gồm các tác phẩm về thời đại Lê Quý Đôn, về Nho giáo Việt Nam nói chung và Nho giáo thời kỳ thế kỷ 18; các những công trình nghiên cứu về bản thân Lê Quý Đôn và tư tưởng của ông để làm nền tảng cho những tìm hiểu về tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn.
Trước tiên chúng tôi xem xét mảng tài liệu về lịch sử - bối cảnh xã hội, chính trị, kinh tế… của sinh thời Lê Quý Đôn và cả sau này, để qua đó xem xét các tiền đề 5 và điều kiện về kinh tế, xã hội, chính trị hình thành nên tư tưởng của Lê Quý Đôn. Với mảng tài liệu này, số lượng sách đã xuất bản và các công trình nghiên cứu là khá phong phú. Đầu tiên có thể kể đến là các bộ sách về lịch sử Việt Nam đã được biên soạn từ thời phong kiến hay trong thời hiện đại. Đó là các bộ sách như: Khâm định Việt sử thông giám cương mục (của Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học dịch từ năm 1957 đến 1960, xuất bản lần đầu năm 1998); Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (xuất bản lần đầu năm 1920); Lịch sử Việt Nam của Đào Duy Anh (xuất bản lần đầu năm 1957), Lịch sử Việt Nam (Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam biên soạn, xuất bản lần đầu năm 1971); Đại cương lịch sử Việt Nam (Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành lần đầu năm 1998), Lịch sử Việt Nam tập 2 do Phan Huy Lê chủ biên, Nxb.
Giáo dục xuất bản năm 2012, v.v… Từ những bộ sử này, có thể hình dung một cách khái quát bối cảnh lịch sử, văn hoá, kinh tế, xã hội thời kỳ Lê Quý Đôn - thể chế vua Lê chúa Trịnh đã phát triển đến giai đoạn nào, đời sống của nhân dân ra sao, kinh tế như thế nào, văn hoá phát triển ở mức độ nào, khoa cử hỗn loạn và thay đổi như thế nào, v.v… Bên cạnh các bộ sử - trình bày diễn biến lịch sử theo thời gian – có thể kể đến những tác phẩm nghiên cứu trình bày những phương diện cụ thể của đời sống xã hội đương thời. Trong số đó, tác phẩm nổi bật là Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (soạn xong năm 1819, biên dịch và chú giải bởi Tổ biên dịch của Viện Sử học Việt Nam, in lần đầu năm 1960). Lịch triều hiến chương loại chí trình bày theo hình thức „chí‟ (ghi chép), là bộ bách khoa về đời sống xã hội và tinh thần của thời kỳ phong kiến mà đậm nét nhất là thời phong kiến mạt kỳ - sinh thời tác giả, cũng là thời đại của Lê Quý Đôn (Phan Huy Chú có thể coi là lớp hậu học trực tiếp ngay sau thời Lê Quý Đôn). Trong tác phẩm, Phan Huy Chú cũng có nhiều chỗ đề cập đến Lê Quý Đôn - giới thiệu Lê Quý Đôn như một nhà bác học của thế kỷ 18, các sách vở của ông được đề cập ở “Văn tịch chí”, các mục khác có trích dẫn sách, thơ và các ý kiến của ông.
Nhận xét chung thì có thể thấy Lịch triều cho phép hình dung một cách toàn diện về đời sống đương thời, còn xem xét riêng trường hợp của Lê Quý Đôn thì có thể thấy ảnh hưởng của Lê Quý Đôn – ảnh hưởng của sự nghiệp sáng tác cũng như quan điểm, tư tưởng của ông – đối với bản thân Phan Huy Chú cũng như đối với đời sống trí thức thời ông. Ngoài ra, chính những tác phẩm của Lê Quý Đôn có thể coi là một nguồn tư liệu quý về đương thời ông. Bởi Lê Quý Đôn là nhà bách khoa thư, nên ngoài những 6 sách lý luận, các sách mà ông biên soạn, sưu tầm, ghi chép có những giá trị về mặt lịch sử rất lớn. Các sách sử từ thời sau của Việt Nam luôn luôn dựa vào nguồn tư liệu này.
Những tác phẩm trong mảng này có thể kể đến là Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục, và Vân đài loại ngữ. Kiến văn tiểu lục nghĩa là ghi chép tản mạn về những điều mắt thấy tai nghe. Các thiên trong sách có thể cung cấp những tư liệu quan trọng về các quan niệm đạo đức đương thời, về lễ nghi, chế độ của các triều đại Việt Nam từ Lý, Trần đến Lê, về tình hình các khu vực trên đất Việt đương thời, về một số nhân vật lịch sử, các vấn đề liên quan đến Phật giáo, v. Kiến văn tiểu lục ngoài giá trị khảo cứu, còn cho thấy một số quan điểm của Lê Quý Đôn như cách nhìn rất mềm dẻo về đạo Phật, thể hiện xu hướng „tam giáo nhất nguyên‟ nổi bật của thời đại ông.
Phủ biên tạp lục thì được coi là tài liệu đặc biệt quan trọng trong việc nghiên cứu về các mặt kinh tế, xã hội của xứ Đàng Trong của Việt Nam. Mảng tài liệu tiếp theo mà chúng tôi xem xét là các tài liệu về lịch sử Nho giáo Việt Nam, lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và lịch sử Nho giáo của thế kỷ 18, để qua đó có được một hình dung cụ thể về đời sống tư tưởng đương thời Lê Quý Đôn – chính là tiền đề về lý luận hình thành nên tư tưởng của ông. Số lượng các tài liệu ở phạm vi này có thể nói là nhiều, gồm cả sách đã xuất bản và các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành, các luận án, luận văn đã được bảo vệ, với các nội dung cụ thể hết sức đa dạng. Ở đây chúng tôi chỉ điểm qua một số công trình có tính khái quát về lịch sử tư tưởng Việt Nam và Nho giáo ở Việt Nam: Triết học và tư tưởng (Trần Văn Giàu, in năm 1988); Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập 1 (Nguyễn Tài Thư chủ biên, xuất bản năm 1993); Nho giáo tại Việt Nam (Viện Triết học, xuất bản năm 1994); Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam (Phan Đại Doãn chủ biên, ấn hành năm 1999); bộ sách của Nguyễn Đăng Thục Lịch sử tư tưởng Việt Nam gồm 6 tập, trong đó có một tập riêng về tư tưởng của Lê Quý Đôn (in lần đầu vào những năm 1970, tái bản năm 1998); Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh (Nguyễn Hoài Văn chủ biên, xuất bản năm 2002), Nho giáo ở Việt Nam (Viện nghiên cứu Hán Nôm và Viện Harvard – Yenching chủ biên, xuất bản năm 2006), Khái lược lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam (Nguyễn Tài Đông chủ biên, xuất bản năm 2016) v.
Các công trình này đem lại một cái nhìn tương đối tổng quát về Nho giáo tại Việt Nam, lịch sử hình thành, các giai đoạn phát triển và đặc điểm của mỗi giai đoạn, để từ đó ta có thể hình dung được về đời sống tinh thần của một thời kỳ cụ thể là thời kỳ Lê Quý Đôn. 7 Lê Quý Đôn sống và hoạt động trong một thời kỳ lịch sử phức tạp, thời kỳ Việt Nam bị chia cắt với nhiều thế lực phong kiến cạnh tranh lẫn nhau, kinh tế có mầm mống phát triển nhưng bị nhân dân bị bóc lột rất nặng nề, khởi nghĩa nông dân nổ ra ở nhiều nơi, khoa cử tiêu cực, nhưng đời sống học thuật lại có phần sôi động hơn trước. Lê Quý Đôn xuất thân khoa bảng, ban đầu làm quan trong triều đình, sau được biệt phái sang phủ Chúa, giữ nhiều chức quan ở cả triều đình và phủ Chúa, chịu nhiều thăng giáng, nhiều người kính trọng mà cũng nhiều người ghét bỏ. Các sách vở trước tác của ông đều trong thời kỳ đương chức, đó cũng là một điểm cần lưu ý khi xem xét các quan điểm của ông.
Ngay khi sinh thời Lê Quý Đôn, giới Nho sĩ và quan lại đã có nhiều đánh giá trái ngược về ông. Sau khi Lê Quý Đôn mất, Việt Nam trải qua thời kỳ biến động – các tập đoàn phong kiến khủng hoảng và sụp đổ, nhà Tây Sơn dẹp chúa Nguyễn ở phía Nam, dẹp họ Trịnh ở phía Bắc và sau đó đại thắng quân Thanh, lên nắm quyền thay nhà Lê. Sau đó ít lâu Tây Sơn lại bị đánh đổ, nhà Nguyễn thành lập. Vương triều Nguyễn xuất phát từ dòng dõi chúa Nguyễn ở thời Lê Quý Đôn, là thế lực phong kiến cai trị xứ Đàng Trong, đối lập với quyền lực của chúa Trịnh ở xứ Đàng Ngoài.