Chương 1. Tổng quan về đề tài Chương 2. Những tương đồng và khác biệt trong chuỗi truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở Mê Linh và Phúc Thọ Chương 3. Những tương đồng và khác biệt trong lễ hội Hai Bà Trưng ở Mê Linh và Phúc Thọ.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Truyền thuyết và phân loại truyền thuyết Khái niệm truyền thuyết Trƣớc đây truyền thuyết là một khái niệm khá mơ hồ, thiếu xác định. Có quan niệm cho rằng truyền thuyết dùng để chỉ một mẩu chuyện đƣợc lƣu truyền nhƣng chƣa hoàn chỉnh hay không có cốt truyện.
Hoặc có quan niệm cho rằng truyền thuyết là những chuyện truyền miệng lấy nhân vật, sự kiện lịch sử làm nội dung. Nhƣng hiện nay, thuật ngữ truyền thuyết chủ yếu đƣợc dùng với tƣ cách là một thể loại văn học dân gian. Ở Việt Nam, truyền thuyết từ lâu đã đƣợc ghi chép thành văn bản. Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam đã đề cập đến khái niệm này: “Truyền thuyết dùng để chỉ những câu chuyện cũ, những sự việc lịch sử còn đƣợc truyền lại nhƣng không đảm bảo về mặt chính xác.
Có thể do truyền rộng mà sai lạc, cũng có thể do tƣởng tƣợng của quần chúng phụ họa, thêu dệt mà càng sai lạc hơn.Và truyền thuyết phần nhiều chƣa đƣợc xây dựng thành truyện. Nó mới chỉ là những mẩu chuyện. Nếu nó phát triển đến mức hoàn chỉnh thì tùy theo nội dung mà nó có thể trở thành truyện cổ tích hoặc thần thoại” [4, tr. Trong bài viết Văn học dân gian là một kho tàng quý báu cho sử học in trong cuốn Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng ông cũng viết thêm: “Cái mà ta gọi là truyền thuyết chỉ là những truyện kể đƣợc quét một lớp sơn ảo tƣởng.
Tuy nhiên nếu nhà làm sử khéo tay sẽ chọn lấy phần tinh chất, phần cốt lõi của hiện thực sau khi đã bóc bỏ cái lớp sơn ảo tƣởng kia” [ 21, tr. Phan Trần trong Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử chú ý đến phƣơng thức phản ánh truyền thuyết: “Truyền thuyết là những truyện truyền tụng trong dân gian về những sự việc và nhân vật có liên quan đến lịch 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Những nhân vật, sự việc đó thƣờng đƣợc phản ánh qua trí tƣởng tƣợng của con ngƣời, qua sự hƣ cấu của nhân dân” [54, tr. Hồ Quốc Hùng trong Truyền thuyết Việt Nam và vấn đề thể loại có nêu ra định nghĩa của mình về truyền thuyết: “Truyền thuyết là ký ức cộng đồng về quá khứ, chủ yếu nó phản ánh niềm tin, sự ngƣỡng mộ của nhân vật đối với nhân vật và sự kiện kịch sử của dân tộc ít nhiều bằng hƣ cấu, tƣởng tƣợng.
Lịch sử đọng lại trong truyền thuyết nhƣ những tia hồi quang phủ lên cảnh vật, phong thổ của đất nƣớc làm đắm say biết bao thế hệ” [16, tr. Trong Văn hóa dân gian khảo sát và nghiên cứu, Giáo sƣ Lê Chí Quế đã dựa trên đặc trƣng phản ánh của truyền thuyết để định nghĩa: “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hƣ cấu nghệ thuật thần kỳ” [41, tr. Nhƣ vậy, ngƣời ta không thể tìm thấy trong truyền thuyết những sự kiện lịch sử chính xác đích thực, nhƣng lại có thể tìm thấy những thứ mà không có một tài liệu lịch sử nào có thể ghi lại đƣợc. Tính chính xác lịch sử trong truyền thuyết, nhƣ nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch khẳng định: không phải hoàn toàn ở sự phản ánh về thời gian, không gian, nhân danh, sự biến, trình tự biên niên của sự kiện mà chủ yếu là ở bản chất, ở cái cốt lõi của lịch sử.
Đó là một thứ lịch sử văn hoá - tinh thần của nhân dân. Nó không giống nhƣ chính sử, nhƣng lại luôn đƣợc dân gian thừa nhận đó chính là lịch sử đáng tin cậy của mình. Và truyền thuyết thể hiện tất cả những điều đó nhờ yếu tố tƣởng tƣợng, hƣ cấu. Yếu tố tƣởng tƣợng, hƣ cấu trong truyền thuyết làm cho hành trạng của mỗi nhân vật anh hùng trở nên kỳ vĩ, nhân vật đƣợc sánh ngang tầm thần thánh, tạo nên một cốt truyện truyền cảm, sinh động, vừa chân thực vừa hấp dẫn, giúp cho truyền thuyết trở thành một tác phẩm nghệ thuật thực thụ chứ không phải là một tài liệu sử học.
Mà nói nhƣ cố thủ tƣớng Phạm Văn Đồng: “Những truyền 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuyết dân gian thƣờng có một cái lõi sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lí tƣởng hoá, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cũng thơ và mộng. Chắp đôi cánh của sức tƣởng tƣợng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hoá mà đời đời con cháu ta ƣa thích” [9, tr. Phân loại truyền thuyết Việc phân loại các thể loại văn học dân gian nói chung và phân loại truyền thuyết nói riêng khó có thể mạch lạc. Chỉ cần tuyệt đối hóa một đặc trƣng duy nhất nào đó của thể loại cũng dẫn đến phiến diện trong việc phân loại.
Tùy mục đích, đối tƣợng nghiên cứu mà mỗi nhà nghiên cứu có một cách phân loại khác nhau. Lê Chí Quế trong Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, viết chung với Võ Quang Nhơn và Nguyễn Hùng Vĩ, Nhà xuất bản Đại học quốc gia, in lần thứ hai, xuất bản năm 1996 chia làm ba loại: truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết về các danh nhân văn hóa. Đỗ Bình Trị trong Văn học [56] chia truyền thuyết làm ba loại: truyền thuyết địa danh, truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết phổ hệ. Vũ Ngọc Khánh trong Truyền thuyết Việt Nam [19] lại chia thành: truyền thuyết địa danh và di tích, truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết tổ ngành nghề.
Còn Kiều Thu Hoạch trong Văn học dân gian người Việt – góc nhìn thể loại [14] đã chia truyền thuyết làm ba loại: truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết phong vật, truyền thuyết địa danh….Ở đây chúng tôi thấy cách phân loại của nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch đã dựa trên đặc trƣng phản ánh của truyền thuyết, lấy đối tƣợng và nội dung của truyền thuyết làm yếu tố quan trọng. Và ở mỗi tiểu loại lại có đặc trƣng riêng: Truyền thuyết nhân vật: là những truyện kể dân gian về những nhân vật và sự kiện lịch sử. Truyền thuyết địa danh là những truyện kể dân gian để nhằm giải thích nguồn gốc tên gọi của tên gọi của địa danh ở các địa phƣơng có gắn các sự kiện 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và nhân vật lịch sử có liên quan nhƣ: tên xóm, tên làng, tên sông, tên suối, ngọn núi, sƣờn đồi…. Truyền thuyết phong vật là truyền thuyết về các phong tục và sản vật của địa phƣơng, giải thích về nguồn gốc các phong tục, kỵ hèm, hội hè, trò diễn, diễn xƣớng dân gian…hoặc các sản vật có gắn với các nhân vật hoặc sự kiện lịch sử.
Vì thế chúng tôi thống nhất chọn cách phân loại của Kiều Thu Hoạch. Lễ hội Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến ở nƣớc ta. Nó ra đời từ rất sớm và đã tồn tại, phát triển qua nhiều thời đại. Tuy nhiên cho đến nay, tên gọi đích thực của nó vẫn chƣa đƣợc các nhà nghiên cứu định danh một cách thống nhất.
Có ngƣời gọi là lễ hội, có ngƣời gọi là hội lễ, có ngƣời gọi là hội hè hay hội hè đình đám…. Dù gọi với tên gọi nào cũng đều bao chứa hai yếu tố cơ bản của nó là lễ và hội. Và cũng không thể coi lễ quan trọng hơn hay hội quan trọng hơn. Bởi nếu thiếu một trong hai yếu tố này sẽ không còn là hội lễ nữa.
Vì thế gọi là lễ hội hay hội lễ đều đƣợc mà không ảnh hƣởng đến nội dung, tính chất của lễ hội. Nhƣng phần đông các học giả cũng nhƣ trong dân gian gọi là lễ hội. Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu đƣa ra quan điểm, định nghĩa về lễ hội. Vũ Ngọc Khánh cho rằng: “Lễ hội cũng gọi là hội lễ, là hình thức sinh hoạt văn hóa xã hội của một tập thể, một tổ chức thuộc giới, nghề, ngành hoặc tôn giáo trong phạm vi một địa phƣơng hoặc trong cả nƣớc” [18, tr.
Đinh Gia Khánh thì cho rằng: “Trƣớc hết phải nói rằng hội lễ là môt hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng tất yếu nảy sinh trong xã hội loài ngƣời trên cơ sở một nhu cầu không thể không thỏa mãn của con ngƣời sống thành xã hội. Hội lễ đã nảy sinh trong xã hội thị tộc, bộ lạc, tức là dƣới chế độ cộng sản 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nguyên thủy và sẽ còn là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng của xã hội cộng sản văn minh sau này” [17, tr. Trong Cơ sở văn hóa Việt nam, nhóm tác giả đã định nghĩa lễ hội thông qua việc lý giải nguồn gốc, thời điểm ra đời lễ hội từ nghi lễ nông nghiệp: “Cƣ dân Việt và cƣ dân các dân tộc ít ngƣời ở Việt Nam là những cƣ dân nông nghiệp sống bằng nghề trồng lúa nƣớc. Vòng quay của thiên nhiên và mùa vụ tạo ra trong họ những nhu cầu tâm linh.
Khoảng thời gian nghỉ ngơi này là dịp để ngƣời dân vừa cảm ơn thần linh đã phù hộ cho mùa vụ đã qua và cầu mong phù hộ cho một mùa màng sắp tới. Dần dà biến thiên thời gian đã lắng đọng nhiều phù sa văn hóa trong lễ hội. Sinh hoạt văn hóa ấy của cƣ dân đƣợc gọi là lễ hội” [60, tr. Trong Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng, tác giả Lê Văn Kỳ đã đƣa ra định nghĩa: “Hội lễ là một cuộc vui lớn của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, tín ngƣỡng, thi thố tài năng,biểu dƣơng sức mạnh, tái hiện cuộc sống con ngƣời trong trƣờng kỳ lịch sử.Nó là một loại hình tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố văn hóa dân gian luôn luôn tƣơng tác lẫn nhau” [21, tr.
Lễ hội là một diễn xƣớng văn hóa tổng hợp với nhiều yếu tố cấu thành. Nhƣng dù là lễ hội, thời đại nào cũng đều nhất thiết phải có hai yếu tố cơ bản là lễ và hội. Hai thành tố này có quan hệ biện chứng, hữu cơ không tách rời. Mà theo nhƣ Đinh Gia Khánh: “Danh từ hội lễ nên đƣợc dùng nhƣ một thuật ngữ văn hóa.