Mở đầu tập thơ là bài cảm tác khi trở ra Thăng Long để lên đường sang Trung Quốc. Cũng giống như hai tập thơ trên, những bài thơ trong Bắc hành tạp lục cũng là thơ tâm sự. Tuy nhiên, Nguyễn Du có sự đổi mới, đã không còn những bài thơ riêng về hoàn cảnh của mình nữa. Thơ ông đề cập đến hiện thực cuộc sống của người dân Trung Hoa và ngâm vịnh về những di tích lịch sử, đồng thời bày tỏ tình cảm với những danh nhân lịch sử nước bạn.
Giọng điệu trong Bắc hành tạp lục dường như đã bớt u sầu so với hai tập thơ trước. 14 Có thể khái quát về đề tài trong ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du như sau: một là đề tài hiện thực cuộc sống của con người, bao gồm cả hiện thực cuộc sống của chính nhà thơ; hai là đề tài thiên nhiên. Cũng như những nhà thơ trung đại khác, Nguyễn Du cũng làm thơ về thiên nhiên khá nhiều. Ông đặc biệt viết nhiều về thiên nhiên quê hương mình với tất cả những gì vốn có của nó, từ hiền hòa êm dịu cho đến hoang dại, hiểm nguy.
Không chỉ vậy, thiên nhiên cũng là đối tượng hay gợi cho thi nhân những suy nghĩ sâu xa về cuộc đời, về thân phận. Ba là đề tài lịch sử, Nguyễn Du ngâm vịnh và đánh giá lịch sử Trung Hoa khá sâu sắc. Nguyễn Du viết nhiều về những nhân vật lịch sử, và cảm thông với cuộc đời những người tài, người trung nghĩa và phê phán những kẻ xấu xa trong lịch sử Trung Hoa. Nói như Mai Quốc Liên thì “Nguyễn Du đã làm một việc phi thường là bằng thơ ông đã đánh giá nền văn hóa Trung Hoa cổ đại, từ Tiên Tần cho đến Đường – Tống” [14, tr.
Cuối cùng, là những dòng thơ mang tâm sự cảm thương cho thân mình và phận người trước biến động của cuộc sống. Về thể thơ trong ba tập, khảo sát thơ Nguyễn Du thì chúng tôi thu được kết quả, thơ ngũ ngôn chỉ có 44/250 bài (chiếm khoảng 18%), còn thất ngôn thì có đến 206/250 bài (chiếm khoảng 80%), còn lại là những bài thơ viết theo thể cổ phong tự do. Vương Duy và thơ Vương Duy 1. Thời đại Vương Duy tên chữ là Ma Cật, ông là nhà thơ thuộc thời đại nhà Đường, nổi tiếng ở những năm từ Khai Nguyên đến Thiên Bảo.
Đường là thời kì hoàng kim của thơ ca. Đó là thời kì thơ ca Trung Quốc phát triển rực rỡ nhất, nội dung thì phong phú, còn hình thức thì phải nói là đạt đến trình độ điêu luyện. Đời Đường kéo dài khoảng 300 năm (617 – 907), từ khi Lý Uyên lật đổ nhà Tùy lập lên nhà Đường cho đến khi Chu Ơn lật đổ nhà Đường. Trong 300 năm lịch sử đó nhà Đường có thể chia làm ba thời kì là: sơ Đường, trung Đường, và vãn Đường.
Vương Duy sinh năm 701, mất năm 761, ông sống trong thời kì Sơ Đường (còn gọi là Sơ thịnh Đường hay Thịnh Đường) đến vài năm đầu Trung Đường. Thời kì này kéo dài hơn 100 năm từ Đường Cao tổ (Lý Uyên - 15 617) đến loạn An Sử vào cuối niên hiệu Thiên Bảo (755) của Đường Huyền Tông (Lý Long Cơ). Trong thời kì này kinh tế phát triển. Đặc biệt đáng chú ý là hai niên hiệu Khai Nguyên và Thiên Bảo dưới triều Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng).
Nền chính trị lúc này trong sáng, các thế lực bè đảng được tiêu diệt hết. Nhà vua trọng dụng hai vị lương thần là Diêu Sùng và Tống Cảnh làm tể tướng. Nhờ đó kinh tế dần phát triển, nông nghiệp đã phát minh ra máy cày tay và đồng xa. Nông nghiệp được đề cao và quan tâm, đất nước nhờ đó mà ổn định, bước vào thời kì thịnh vượng.
Kinh đô Trường An đông đúc và phồn thịnh bậc nhất. Bên cạnh đó, Đường Huyền Tông cũng trọng dụng tể tướng Trương Cửu Linh. Nhà vua nghe theo chính sách cải cách quan lại của ông, đồng thời quan tâm đến việc dùng người tài, lại yêu cầu các địa phương bồi dưỡng và tiến cử nho sĩ ưu tú cho đất nước. Tuy nhiên những năm cuối đời nhà thơ (755- 761) xã hội xảy ra biến loạn.
Mốc đánh dấu chính là sự kiện loạn An Sử (755). Loạn An Lộc Sơn nổ ra đã làm cho xã hội nhà Đường rối loạn. An Lộc Sơn là tiết độ sứ người Hồ, nổi lên định cướp ngôi nhà Đường. Đường Huyền Tông cùng Dương Quý Phi chạy vào đất Thục.
Tuy sau đó nhà Đường đã dẹp được loạn An Sử nhưng từ đây mâu thuẫn dân tộc, giai cấp vẫn âm ỉ cháy, nhà Đường bắt đầu thời kì xuống dốc. Tóm lại, trong 300 năm đời Đường, có thể lấy năm 755 – xảy ra loạn An Sử làm mốc để đánh dấu hai thời kì khác nhau. 100 năm đầu là thời kì thịnh vượng. Từ sau loạn An Sử là thời kì mà mâu thuẫn xã hội trở nên sâu sắc, triều đình hủ bại, chiến tranh xảy ra liên miên, người dân bị đẩy vào cảnh điêu linh.
Diễn biến lịch sử này đã để lại dấu ấn trong thơ ca Đường. Vương Duy sống trong cả hai thời kì khác nhau của lịch sử nhà Đường, từ thời kì hưng thịnh đến khi bắt đầu loạn lạc. Tuy loạn lạc xảy ra vào những năm cuối đời nhà thơ nhưng nó cũng ảnh hưởng đến cuộc sống của ông. 16 Nhìn chung cuộc đời Vương Duy bình lặng hơn và nhà thơ ít trải qua nhiều biến cố, thăng trầm lịch sử như Nguyễn Du.
Điều này cũng là một nhân tố tạo nên sự khác biệt giữa hai nhà thơ. Con người Vương Duy (701 – 761) tự là Ma Cật, người đất Kì, Thái Nguyên (nay thuộc huyện Kì, tỉnh Sơn Tây). Cha sớm qua đời nên suốt thời ấu thơ Vương Duy tuy sống trong cảnh đủ đầy về vật chất nhưng lại thiếu thốn tình cảm cha con. Gần gũi với ông nhất là người mẹ, một người họ Thôi ở Bắc Lăng, bà thờ Phật hơn ba mươi năm và là một tín đồ Phật giáo.
Không khí trong nhà vì vậy lúc nào cũng đượm mùi nhang khói và tiếng tụng kinh, niệm Phật. Vương Duy từ khi còn nhỏ đã bộc lộ những năng khiếu văn chương, âm nhạc…tâm hồn nhạy cảm của ông đã sớm tiếp thu không khí sùng đạo Phật trong gia đình từ rất sớm. Năm Vương Duy hai mốt tuổi, ông đậu tiến sĩ, được bổ nhiệm quan Đại nhạc thừa. Sau đó vì phạm lỗi nên bị biếm đi Tế Châu (nay là huyện Trường Thanh, Sơn Đông) làm Tư khố tham quan cũng tại đây người vợ của nhà thơ qua đời.
Đến năm 734, Trương Cửu Linh chấp chính, Vương Duy làm thơ dâng lên xin được tiến cử, do đó ông được bổ làm Hữu thập di. Năm Khai Nguyên thứ 25, Trương Cửu Linh bị biếm, cũng trong mùa thu năm đó Vương Duy phải đi sứ ngoài biên ải, ở Lương Châu một thời gian. Sau khi đi sứ ở Lương Châu, Vương Duy về Trường An làm quan một thời gian khá ổn định. Trong thời gian này vì công việc nhà thơ có đi Tứ Xuyên, Hồ Bắc nhưng thời gian không lâu.
Ông sống tương đối ổn định tại ngoại thành Trường An, một nơi núi rừng tráng lệ. Trong khoảng thời gian mười lăm, mười sáu năm từ cuối Khai Nguyên đến cuối Thiên Bảo (740 – 755), Vương Duy sống cuộc đời yên tĩnh của một vị quan văn, chức tước thăng dần: Khế Bộ Lang Trung năm 742, Cấp Sự Trung năm 755. Tuy nhiên, cuộc sống chủ yếu của ông lại là gảy đàn, chơi sáo, làm thơ trong dinh thự của mình tại Võng Xuyên. Cũng vì vậy mà địa danh Võng Xuyên thường 17 xuyên xuất hiện trong thơ ông.
Đây là thời kì chuyển từ tráng niên sang tuổi già của Vương Duy, thời kì này ông sáng tác rất nhiều thơ sơn thủy điền viên. Năm 755, An Lộc Sơn chiếm Trường An và Lạc Dương, Vương Duy bị bức ra làm quan cho ngụy triều. Sau khi ngụy triều đổ, Vương Duy suýt bị tội nặng, may nhờ có em trai là Vương Tấn đứng ra xin từ quan để chuộc tội, Vương Duy mới được tha. Sau đó, ông tiếp tục ra làm quan thăng đến Thượng Thư Hữu Thừa.
Tất cả những biến cố trên đã ảnh hưởng sâu sắc đến tầng lớp trí thức, nho sĩ đương thời, Vương Duy cũng nằm trong số đó. Chính vì vậy mà những năm cuối đời của Vương Duy, mỗi khi bãi triều nhà thơ thường ngồi lặng lẽ một mình đốt hương, đọc kinh, niệm Phật. Vương Duy sinh ra trong một xã hội mà nền giáo dục Nho giáo phát triển mạnh mẽ. Chịu sự giáo dục đó, Vương Duy cũng dùi mài kinh sử và đi thi lấy công danh.
Cả cuộc đời Vương Duy là một vị quan luôn làm tròn trách nhiệm. Ngay cả khi về ở ẩn tại Võng Xuyên, Vương Duy vẫn ngày ngày lên triều rồi sau đó lui về dinh thự của mình vui với đạo. Vương Duy có một người mẹ là tín đồ Phật giáo trong nhiều năm, ngay từ thuở nhỏ ông đã sống trong không khí đượm mùi đạo. Tư tưởng của đạo Phật cũng từ đó ngấm vào tâm hồn nhà thơ.
Những bài thơ sơn thủy của thi nhân tinh tế, nhẹ nhàng nhưng luôn hàm chứa ý vị Thiền sâu sắc. Đối với Lão giáo, Vương Duy cũng thấu hiểu và yêu thích. Trong thơ mình ông nhắc đến tấm gương của những bậc cao nhân Đạo giáo với một tấm lòng ngưỡng vọng, ông cũng vô số lần bày tỏ ý muốn được ẩn cư nơi non xanh. Và nửa cuộc đời sau của mình Vương Duy đã thực hiện trọn vẹn ý định ấy.
Như vậy, con người Vương Duy là sự thống nhất giữa ba tư tưởng Nho, Phật và Đạo. Ông sống với trách nhiệm làm quan của một nhà Nho, vui với Phật và Đạo. Trong thơ Vương Duy cũng biểu hiện rõ nét sự thống nhất ấy. Năm 761, năm Thượng Nguyên thứ hai đời Đường Túc Tông (Lí Hanh), Vương Duy qua đời, thọ 61 tuổi.
Sự nghiệp Vương Duy (701 – 761), như vậy sự nghiệp sáng tác của ông nằm trọn trong giai đoạn Thịnh Đường. Ông để lại khoảng 400 bài thơ, trong đó có những bài thơ thời trẻ, bộc lộ tâm trạng của lớp tri thức có tài có chí không được dùng, sống trong cảnh hàn vi, còn bọn công tử quý tộc dốt nát lại giàu có, rong chơi xa hoa, trụy lạc. Những tháng năm ở biên cương, Vương Duy cũng sáng tác những bài thơ biên tái.