CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI VÀ PHAP LUAT VE LAO DONG NUOC NGOAI 1. Một số khái niệm về lao động nước ngoài và pháp luật về lao động nước ngoài. Khái niệm về lao động nước ngoài 1. Khai niệm lao động nước ngoài Thị trường lao động được hình thành do cung - cầu lao động.
Người sử dụng lao động có quyên tự do tuyển dụng lao động, còn người lao động có quyền tự do tìm kiếm việc làm. Do vậy, những nơi có nhu cau tuyên dụng lao động thì người lao động thường đi chuyên đến dé tìm kiếm cơ hội việc làm. Trong nội bộ quốc gia, xuất hiện sự dịch chuyền lao động từ nông thôn ra thành thị, từ vùng này sang vùng khác. Sự mở cửa nền kinh tế thế giới còn hình thành nên thị trường lao động quốc tế.
Đó là sự đi chuyển lao động giữa các quốc gia. Mỗi quốc gia có thé đưa lao động nước mình ra nước ngoài đồng thời chấp nhận lao động nước ngoài vào làm việc tại nước mình như một thực tại khách quan. Xu thé di chuyén của lao động trên thị trường lao động quốc tế hiện nay là từ nước kém phát triển sang nước phát triển, từ nước thừa lao động sang nước thiếu lao động. Hiện tượng lao động nước ngoài đến làm việc tại một nước được gọi bằng thuật ngữ “lao động di trú”, “lao động nhập cư”.
[10] Các văn kiện quốc tế như: Công ước số 97 (1949), Công ước Di trú về việc làm và Công ước 143 (1975), Công ước về người lao động di trú trong hoàn cảnh bị lạm dụng của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Công ước Quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và thành viên gia đình họ của Liên hợp quốc năm 1990 là những văn kiện quốc tế quan trọng nhất đề cập đến vẫn đề này. Theo quan niệm của ILO thì: “Lao động di trú là khái niệm để chỉ một người di trú từ một nước này sang một nước khác đê làm việc vì lợi ich của chính minh và bao gồm bat kì người nào đã được thường xuyên thừa nhận là lao động di trú” (Điều 11 Công ước 97 và Điều 11 Công ước 143) Như vậy, theo ILO dấu hiệu nhận biết lao động di trú ở đây dựa trên sự khách biệt về lãnh thổ, biên giới quốc gia, là việc di chuyển của người lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác. Sự di chuyển này của người lao động là từ nước mà người đó mang quốc tịch sang nước khác mà người đó không mang quốc tịch. Sự di chuyển tìm kiếm việc làm hoàn toàn là vì lợi ích cá nhân của bản thân người lao động.
Khái niệm lao động di trú của ILO chỉ sử dụng cho người lao động “đã được thường xuyên thừa nhận là lao động đi trú ” tức là những người lao động di cư hợp pháp, được sự chấp nhận của nước đến là “lao động nhập cư”. Công ước về lao động di trú cua ILO không áp dụng cho các trường hợp sau: - Người lao động qua biên giới; - Nhập cảnh ngắn hạn của nghệ sĩ và các thành viên trong những ngành nghề tự do; - Người đi biên; - Người di trú đặc biệt vì mục đích đào tạo và giáo dục; - Nhân viên của tổ chức, cam kết hoạt động trong lãnh thổ của một quốc gia đã được nhận tạm thời vào nước này theo yêu cầu của người sử dụng lao đọng của họ để thực hiện nhiệm vụ hoặc công việc cụ thê, trong một thời gian nhất định và xác định và được yêu cầu rời khỏi đất nước sau khi hoàn thành nhiệm vụ hoặc công việc của mình. Những trường hợp trên không chịu sự điều chỉnh của công ước bởi những người lao động này không có sự cư trú ở nước mà họ đến lao động, những người di chuyển vì mục đích sáng tạo nghệ thuật, những người đến hoc tập hoặc những người lao động đến làm việc vì mục đích công ích mà không phải tìm kiếm lợi nhuận cá nhân, làm việc theo yêu cầu của tô chức tại nước sử dụng lao động dé thực hiện một công việc trong thời gian xác định. Không chỉ giới hạn trong phạm vi những người lao động di trú một cách hợp pháp, Liên hợp quốc đã có quan niệm mở rộng hơn về lao động di trú.
Công nước 1990 tại Khoản 1, Điều 2 có nêu: “Thudt ngữ “người lao động di trú” để chỉ một người đã, đang và sẽ làm một công iệc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân ”. Có thé nói, định nghĩa này của Liên hợp quốc mang tính toàn điện hơn. Liên hợp quốc đã dựa trên các đặc điểm sau để coi một người lao động là người lao động di trú: Thứ nhất, đó là người này “đã, đang và sẽ làm một công việc”. Người lao động di trú theo công ước của Liên hợp quốc không chỉ là những người mà hiện tại đang làm một công việc mà còn bao gồm cả các trường hợp người lao động di trú đã làm một công việc trong quá khứ hoặc tương lai sẽ làm.
Điều này hoàn toàn phù hợp với tuyên bố của Liên hợp quốc tại Điều 1 của Công ước mà các nước thành viên khi đã phê chuẩn công ước phải tuân theo, đó là: “Công ước này sẽ ap dụng trong toàn bộ qua trình di trú của người lao động di trú và các thành viên gia đình ho. Quá trình đó bao gồm việc chuẩn bị di trú, ra đi, quả cảnh và toàn bộ thời gian ở à làm công việc có hưởng lương tại quốc gia có việc làm cũng như việc quay trở về quốc gia xuất xứ hoặc quốc gia thường tri.” Đối tượng mà công ước này tác động khá rộng nhằm bảo vệ triệt để quyền lợi của người lao động di trú. Thứ hai, tính chat công việc mà người lao động di trú thực hiện là “công việc có hưởng lương”, công việc đó được người lao động di trú thực hiện phải là công việc dé tìm kiếm lợi nhuận cho bản thân người lao động. Thứ ba, địa điểm làm việc là “tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân.” Nơi làm việc được xác định theo công ước là phải nam ngoài lãnh thé quốc gia mà người đó là công dân.
Việc xác định một người là công dân của một quốc gia thương được căn cứ theo dấu hiệu quốc tích mà người đó mang. Một 10 người là công dân của một quốc gia hay không sẽ luôn gắn liền với quyền và nghĩa vụ của người đó với quốc gia mà họ mang quốc tịch. Tuy nhiên, Công ước cũng chỉ rõ những trường hợp không được coi là lao động di trú mặc dù họ có thể thỏa mãn đầy đủ các đặc điểm trên, đó là: - Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi các cơ quan và tô chức quốc tế hoặc những người được cử hoặc tuyển dụng bởi một nước sang một nước khác dé thực hiện các chức nang chính thức mà việc tuyên dụng người đó và địa vị của người đó đã được điều chỉnh bởi pháp luật quốc tế chung hoặc các hiệp định hay công ước quốc tế cụ thé; - Những người được cử hoặc được tuyển dụng bởi một nước hoặc người thay mặt cho nước đó ở nước ngoài tham gia các chương trình phát triển và các chương trình hợp tác khác mà việc tiếp nhận và địa vị của người đó được điều chỉnh theo thỏa thuận với quốc gia nơi có việc làm và theo thỏa thuận này người đó không được coi là người lao động di trú; - Những người sống thường trú ở một nước không phải quốc gia gốc để làm việc như những nhà đầu tư; - Những người ti nạn mà không có quốc tịch, trừ khi pháp luật có quy định khác; - Sinh viên và học viên; - Những người đi biển hoặc người làm việc trên các công trình trên biển không được nhận vào để cư trú và tham gia vào một công việc có hưởng lương ở quốc gia nơi có việc làm. Như vậy, tuy cũng có đối tượng điều chỉnh là lao động di trú nhưng Tổ chức Lao động thế giới ILO và Liên hợp quốc vẫn có những quan điểm khác biệt trong việc điều chỉnh từng loại lao động di trú.
Một số lao động không thuộc đối tượng lao động di trú của ILO thì vẫn được Liên hợp quốc chấp nhận (vi dụ như trường hợp của nhân công vùng biên.) Nhìn chung, Công ước bảo vệ quyên của tât cả 11 lao động di trú và thành viên gia đình họ của Liên hợp quốc có các đối tượng được áp dụng rộng rãi hơn. Tại các quốc gia, pháp luật của các nước lại sử dụng thuật ngữ “Lao động nước ngoài” để chỉ lao động di trú từ quốc gia khác tới nước mình làm việc. Ví dụ như: Pháp luật Singapore có quy định về lao động nước ngoài trong một luật riêng với tên gọi là: Luật sử dụng Lao động nước ngoài. Theo quy định trong Luật này thì: Nguoi lao động nước ngoài có nghĩa là: (a) Người nước ngoài, trừ người nước ngoài lao động tự do, tìm kiếm hoặc được mời làm việc tại Singapore, hoặc (b) Một người hay nhóm người khác mà Bộ trưởng có thé quy định bằng việc công bố trên Công báo; “người nước ngoài” có nghĩa là không phải công dân hoặc thường trú của Singapore.
[13, tr 704] Nhu vậy pháp luật Singapore chỉ loại trừ trường hợp người lao động tự do tức là “người nước ngoài không được thuê làm việc theo một hợp đồng dịch vụ, tham gia hoạt động thương mại, nghề nghiệp, hoặc chuyên môn hoặc hoạt động khác ở Singapore vì mục đích lợi nhuận”. [13, tr 706] Quy định này giống với quy định của ILO trong Công ước số 97 và 143 về trường hợp lao động không được coi là “lao động di trú”. Người nước ngoài đến Singapore có thê tìm kiếm cơ hội việc làm, hoặc được người sử dụng mời đến làm việc hoặc được Bộ trưởng quy định trên Công báo. Người nước ngoài theo quy định của Singapore là người không phải là công dân Singapore tức là không mang quốc tịch Singapore, đó có thê là người mang quốc tịch một nước khác hoặc người không có quốc tịch.
Ngoài ra người nước ngoài còn là người không thường trú ở Singapore. Như vậy pháp luật Singapore còn căn cứ vào dấu hiệu của việc cư trú thường xuyên tại đất nước mình để gọi người đó là “người nước ngoài”. Đây cũng là sự mở rộng hơn về quy định “người nước ngoài” của pháp luật Singapore.