Chương 1: Lý luận về an ninh việc làm và pháp luật về an ninh việc làm. Chương 2: Thực trạng pháp luật an ninh việc làm ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện. Chương 3: Định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật vê an ninh việc làm ở Việt Nam. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU DE TÀI LUẬN ÁN 1.
Những kết quả nghiên cứu về pháp luật an ninh việc làm 1. Những kết quả nghiên cứu về mặt lý luận liên quan đến an ninh việc làm Thứ nhất, ANVL được tiếp cận dưới nhiều góc độ nghiên cứu. Điều này xuất phat từ tam quan trong của ANVL đối voi NLD, người sử dung lao động (NSDLĐ) và Nhà nước. Trong những năm gần đây, ANVL nhận được sự chú ý của không chỉ của giới học thuật mà còn cả những người xây dựng chính sách.
Điều này có nguyên nhân bắt nguồn từ những thay đổi nhanh chóng về hội nhập kinh tế và cạnh tranh toàn cau; sự phát triển của nền tảng công nghệ dẫn đến nhiều hình thức tổ chức việc làm mới, tác động của khủng hoảng kinh tế, dịch bệnh khiến NLD phải đối mặt với những thách thức về thất nghiệp, thu nhập, đảm bảo cân băng giữa công việc và cuộc sống. Theo nghĩa rộng nhất, ANVL được tiếp cận là một bộ phận của an ninh con người. Quan điểm này được đề cập lần đầu trong Báo cáo hàng năm về sự phát triển của con người năm 1994! đo Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (United Nations Development Programme - UNDP) thực hiện. An ninh con người được xác định trên 7 yếu tố bao gồm an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị.
Đây cũng là cách tiếp cận của tác giả Chu Mạnh Hùng (2013) trong Luận án “Van đề an ninh con người trong pháp luật quốc tế hiện đại”. Trong luận án, tác giả không đưa ra định nghĩa cụ thê về ANVL. Tuy nhiên, xuất phát từ định nghĩa an ninh con người, ANVL được tiếp cận dưới góc độ quyền con người và ASXH. Theo đó, ANVL là những đảm bảo của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia để con người không bị đe dọa trước các mối nguy hiểm, tạo lập cuộc sống an toàn, phát triển.
Với tư cách là một bộ phận của an ninh con người, đảm bảo ANVL được tiến hành thông qua việc cung cấp an ninh thu nhập và liên kết với các mạng lưới ASXH để góp phần nâng cao mức độ an ninh con người. LUNDP (1994), Human development report 1994, Oxford University Press. Link truy cập: https://hdr.org/sites/default/files/reports/255/hdr_1994 en_complete_nostats.pdf ANVL cũng có thé được nghiên cứu theo học thuyết “zửi ro xã hội” (Risk society) do nhà xã hội học người Đức là Ulrich Beck khởi xướng. Trong cuốn sách “The world at risk”, Beck cho rằng, những thay đổi về kinh tế, công nghệ và môi trường sẽ thiết lập lại mối quan hệ việc làm.
Điều này khiến nhiều mô hình làm việc linh hoạt xuất hiện như công việc không trọn thời gian, hợp đồng lao động (HĐLĐ) không giờ (zero hours hay On-call work)’ hay sự gia tang các HDLD theo mua vu. Hau qua tiéu cuc cua viéc nay la khién NLD không được hưởng trọn ven các quyền lợi theo quy định của PLLĐ. Do đó, ANVL được coi là biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro cho TTLD và xã hội. Dựa trên khung lý thuyết về TTLĐ chuyển tiếp (Transitional Labour Markets - TLM) được biết đến rộng rãi ở Châu Âu từ giữa những năm 1990, ANVL được hiểu là sự kết hợp nhằm hài hoà giữa chăm sóc gia đình, giáo dục và làm việc.
Theo quan điểm của tác giả Giinther Schmid trong bài viết “The Transitional Labour Markets Approach: Theory, History and Future Research Agenda” va tac gia Brzinsky-Fay trong bai viét “The concept of transitional labour markets: A theoretical and methodological inventory”, TTLD cần được coi là một hệ thong chuyền đổi việc làm liên tục trong suốt cuộc đời như chuyên đổi từ trường học đến nơi làm việc; chuyển đối công việc này sang công việc khác; chuyên đổi giữa việc làm và thất nghiệp. Dé thực hiện chuyển đôi TTLD, các quốc gia cần phải xây dựng pháp luật nhằm bảo vệ và cân bằng quyền lợi cho cả NSDLĐ va NLD. Một thành phan quan trọng của ANVL theo học thuyết TTLĐ chuyền tiếp là khả năng làm việc (employability). Thuật ngữ nay dé cập đến khả năng của NLD dé có được việc làm, duy trì việc làm và các cơ hội tiếp tục làm việc sau khi cham dứt QHLD?.
Ngoài ra, ANVL cũng có thể được nghiên cứu với tư cách là một bộ phận của mô hình an ninh linh hoạt (ALLH) việc làm. Mô hình này được ghi nhận trong Chiến lược Lisbon 2004 và Chiến lược châu Âu 2020 về việc làm (European ? Hợp đồng lao động không giờ phụ thuộc chặt chẽ vào mức độ và sự biến động của khối lượng công việc. Người lao động thường gặp khó khăn trong việc cân bằng công việc với cuộc sống cá nhân do lịch trình làm việc có kha năng thay đổi cao. Link truy cập https://www.org/global/topics/non-standard-employment/WCMS _534825/lang--en/index.htm 3 Hillage J, Pollard E.
(1998) "Employability: Developing a Framework for Policy Analysis," S. Department for Education and Employment, London Employment Strategy - EES); trở thành một nội dung quan trọng của chương trình nghị sự hang năm của Uy ban châu Au‘; được xác định là quyền xã hội cơ bản (European Pillar of Social Rights) của Liên minh Châu Âu. Theo tác giả Wilthagen và Trosan trong cuốn “Flexicurity: Concepts, practices, and outcomes”, ANLH việc làm là chiến lược chính sách nỗ lực đồng bộ và có chủ ý nhằm tăng cường tính linh hoạt của TTLĐ, tổ chức công việc và QHLĐ; đồng thời, tăng cường an ninh đối với các nhóm yếu thế hơn trong TTLĐ. ALLH việc làm được sử dụng dé luận giải các chính sách của TTLD trên cơ sở 04 khía cạnh linh hoạt (linh hoạt số bên ngoài, linh hoạt nội bộ, linh hoạt chức năng và linh hoạt tiền lương) và 04 khía cạnh an ninh (an ninh công việc, an ninh việc làm va an ninh thu nhập và an ninh kết hợp).
Trên cơ sở áp dụng ANLH việc làm, NSDLĐ sẽ có những biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm tăng khả năng thích ứng với các điều kiện để duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện năng suất lao động”. Cách tiếp cận này được một số học giả Việt Nam viện dẫn nhăm đánh giá thực trạng ANLH việc làm tại Việt Nam và gợi mở hoàn thiện chính sách về việc làm. Cụ thể, bài viết “Thi trường lao động linh hoạt và an ninh việc lam” của tác giả Doãn Mậu Diệp đăng trên Tạp chí Lao động Xã hội số 325 (2007); bài viết “Hé thong an sinh xã hội quốc gia với van dé an ninh việc lam” của Mac Văn Tién®; bài viết “Vấn dé an ninh và linh hoạt việc làm trong chính sách lao động và việc làm cua Việt Nam” của Lê Thúy Hang’. Ngoài ra, còn có bài viết của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương, Trần Minh với chủ đề “An ninh việc làm: cách tiếp cận, đo lường và khung khổ chính sách" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 4 (2019).
Bài *Sonja Bekker, Mikkel Mailand (2018), “The European flexicurity concept and the Dutch and Danish flexicurity models: How have they managed the Great Recession?”. Link truy cập: https://doi. 5 Mạc Văn Tiến (2019), “Hệ thống an sinh xã hội quốc gia với van đề an ninh việc làm”, Bài viết được đăng tải trên trang thông tin điện tử của Bảo hiểm xã hội quốc phòng.vn/bai-viet/he-thong-an-sinh-xa-hoi-quoc-gia-voI-van-de-an-ninh-viec-lam-2 138 7 Lê Thúy Hằng (2020), “Vấn đề an ninh và linh hoạt việc làm trong chính sách lao động và việc làm của Việt Nam”, Bài viết được đăng tải trên trang thông tin điện tử của Tạp chí Lý luận chính trị. Link truy cập: http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/thuc-tien/item/3072-van-de-an-ninh-va-linh-hoat-viec-lam-trong-chinh- sach-lao-dong-va-viec-lam-cua-viet-nam.html viết phân tích các khái niệm liên quan với ANVL, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng ANVL, cách thức đo lường ANVL, việc chính sách ANVL ở các nước phát triển và đang phát triển.
Thứ hai, tinh đa dang của các mô hình/chính sách về ANVL. Sự lựa chon mô hình ANVL phụ thuộc vào các yếu tố như điều kiện kinh tế xã hội, lịch sử phát triển của QHLD, năng lực trình độ của NLD,.Do đó, ANVL cần dựa trên sự phối hợp của các chính sách việc làm và xã hội. Chính sách việc làm tạo điều kiện thuận lợi để tăng trưởng việc làm. Chính sách xã hội đảm bảo mức độ an toàn kinh tế và xã hội.
Trong bài viết “Opportunities and challenges for flexicurity — the Danish example”, tác gia Thomas Bredgaard, Flemming Larsen và Per Kongshoj MadsenŠ cho rằng TTLD linh hoạt của Đan Mạnh đặc trưng bởi tính linh hoạt cao thông qua việc thuận lợi tuyển dụng va cham dứt QHLD. Tuy vậy, mức trợ cấp thất nghiệp (TCTN) hào phóng kết hợp với các chính sách TTLD tích cực (Active labour market policy - ALMP) được coi là yếu tô giúp TTLD Dan Mach tao duoc su can bang. Đối với Nhật Ban, ANVL thường được đề cập cùng với chính sách việc làm tron đời (Lifetime employment - LTE). Điều này dựa trên nên tảng truyền thống văn hóa Nhật Bản về lòng trung thành, chủ nghĩa tập thê và hài hòa xã hội.
Chính sách ANVL thường được quy định trong chính sách phát triển nguồn nhân lực của các doanh nghiệp. Điều này được thể hiện thông qua các bài viết của Hiroshi Ono nhu “Lifetime employment in Japan: Concepts and measurements” dang trén Tap chi Journal of the Japanese and International Economies’; bai viết “The Japanese “Lifetime employment system” and its implications for careers guidance” cua A.Watts dang trén tap chi International Journal for the Advancement of Counselling!”. 8 Thomas Bredgaard, Flemming Larsen, Per Kongshej Madsen (2006), “Opportunities and challenges for flexicurity - The Danish example”, Research Article, Volume: 12 issue: 1, page(s): 61-82 https://doi.1177/102425890601200107 ? Hiroshi Ono (2010), “Lifetime Employment in Japan: Concepts and Measurements”, Journal of the Japanese and International Economies, Vol. Link truy cap: https://papers.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=1830736 10 A.
Link truy cập: https://link.1007/BF00119284 10 Ngoài ra, trong cuốn sách “Js Asia adopting flexicurity? A survey of employment policies in six countries” của Paul Vandenberg!! phân tích mô hình ANVL của sáu quốc gia chau A. Trong đó, An Độ va SriLanka tiếp cận ANVL theo hướng an ninh TTLĐ. Trung Quốc và Hàn Quốc tiếp cận ANVL bằng cách hạn chế về chấm đứt QHLĐ đồng thời áp dụng bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) va các chính sách TTLĐ tích cực. Singapore và Malaysia đều đề cao linh hoạt việc làm (LHVL), giảm sự chú trọng dam bảo ANVL.
Thứ ba, cơ sở xây dựng khung lý thuyết về ANVL. Bài viết “Employment security: a conceptual exploration”!2 của tác giả Ronald Dekker chi ra những yếu tô là cơ sở xây dựng khung lý thuyết về ANVL.