Chương 1: Quán ngữ liên kết và những khái niệm liên quan. Chương 2: Quán ngữ liên kết trong tiếng Việt và tiếng Anh Chương 3: So sánh cách sử dụng QNLK trong Harry Potter và trong bản dịch tiếng Việt. Phần phụ lục gồm có 4 phụ lục 5. Phân loại quán ngữ liên kết theo ngữ nghĩa 6.Bảng tần số suất hiện và phần trăm tiếng Anh b.Bảng tần số suất hiện và phần trăm tiếng Việt 7.
Bảng Ngữ cảnh của quán ngữ liên kết Anh – Việt 8. Bảng Thống kê quán ngữ liên kết Anh- Việt 14 Chương một Quán ngữ liên kết và những khái niệm liên quan Tiểu dẫn Trong chương này, chúng tôi trình bày một số vấn đề cơ bản về những khái niệm liên quan đến đối tượng nghiên cứu. Trước hết, luận văn sẽ làm rõ khái niệm quán ngữ (QN): Trong tiếng Việt quán ngữ khác với thành ngữ (TN) thế nào? Quan niệm về quán ngữ trong tiếng Việt (QNTV) có khác với quan niệm về quán ngữ trong tiếng Anh (QNTA) không? Khi nghiên cứu ngữ pháp văn bản, hiện tượng đầu tiên được các nhà nghiên cứu quan tâm là tính liên kết của văn bản. Vậy liên kết là gì? Các mối quan hệ liên kết trong một văn bản được thể hiện ra sao? Các đơn vị liên kết trong văn bản gồm những đơn vị nào? Liên kết và mạch lạc khác nhau thế nào? Đó là những vấn đề cơ bản được chúng tôi dùng làm cơ sở lý luận chung cho các chương sau.
Phân biệt thành ngữ và quán ngữ 1. Thành ngữ Thành ngữ là gì? Trước hết ta hãy xem xét các định nghĩa, quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt: Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) [16] đã định nghĩa thành ngữ (TN) như sau: “Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó”. 15 Trong “Kể chuyện thành ngữ - tục ngữ” (Hoàng Văn Hành chủ biên), thành ngữ được định nghĩa như sau: “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái – cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ” [18]. Nguyễn Công Đức trong công trình nghiên cứu “Bình diện cấu trúc hình thái – ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt” cho rằng “Thành ngữ là những cụm từ cố định, là đơn vị có sẵn trong kho từ vựng, có chức năng định danh, tức gọi tên sự vật và phản ánh khái niệm một cách gợi tả và bóng bẩy…” [35 c] Ngô Hữu Hoàng [28] cũng cho rằng thành ngữ (TN) là những cụm từ cố định (CTCĐ) có nghĩa định danh, có tính thành ngữ cao và có quan hệ cú pháp nội tại chặt chẽ.
Trang web về thành ngữ, quán ngữ tiếng Anh [90a] cũng có định nghĩa như sau: “Thành ngữ là những cụm từ và câu không mang nghĩa chính xác như những gì mà cụm từ và câu đó thể hiện. Ngay cả nếu ta biết nghĩa của từng từ trước mắt, ta cũng có thể không hiểu được thành nền văn hóa ẩn sau thành ngữ ấy. ” (Idioms are phrases and sentences that do not mean exactly what they say. Even if you know the meaning of every word in the see 16 or hear, you may not understand the idiom because you don’t understand the culture behind it.
) Như vậy, sau khi xem xét các định nghĩa, khái niệm về thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh, chúng ta thấy thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt có nhiều điểm tương đồng: đều là những cụm từ cố định, nghĩa của thành ngữ là nghĩa biểu trưng, không đồng nhất với nghĩa của các thành tố hợp lại. Quán ngữ (Cliché) Khái niệm quán ngữ cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu cố gắng làm rõ để phân tích thành ngữ và quán ngữ. Theo Đỗ Hữu Châu [9] thì “Quán ngữ là những cách nói, cách diễn đạt cần thiết để đưa đẩy, để chuyển ý hay dẫn ý, để nhập đề chứ không có tác dụng nêu bật ra các sự vật, hiện tượng, tính chất, sắc thái của những cái có tên hoặc nêu bật ra các sự vật, hiện tượng, tính chất… chưa có tên gọi”. Còn theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong “Từ vựng học tiếng Việt” thì “Quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên kết, đưa đẩy, rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó ”.
[36 a] Trong bài nghiên cứu về “Quán ngữ tiếng Việt”, tác giả Nguyễn Thị Thìn nêu lên một số nhận định về khái niệm và đặc trưng của quán ngữ: “Quán ngữ (QN) và thành ngữ (TN) được xếp vào loại cụm từ/ ngữ cố định. Giữa chúng có những điểm chung và riêng: - Cũng như TN, QN là tổ hợp hai từ trở lên, mang tính cố định (tương đối) về mặt kết cấu, tính thành ngữ về mặt nghĩa, có chức năng tạo câu. - Nhưng khác với TN, QN không mang tính biểu trưng, tính hình ảnh. Cách hiểu QN thường không theo cơ chế ẩn dụ, hoán dụ, so sánh như TN.
Mức độ chặt chẽ về kết cấu và tính thành ngữ thường không cao bằng TN. Bù lại, kiểu loại và công dụng của QN đa dạng, phong phú hơn so với TN. Tác giả Nguyễn Công Đức cũng cho rằng: “Việc phân định rạch ròi giữa thành ngữ và quán ngữ là hết sức phức tạp” và “Nên khuôn định quán ngữ ở trong phạm vi hẹp, gồm những cụm từ làm chức năng dẫn tiếp, đưa đẩy trong các phong cách ngôn ngữ khác nhau”. 18 Trong luận văn Thạc sĩ của mình, Đào Thị Dung [8] viết về sự phân biệt thành ngữ với quán ngữ như sau: “Thành ngữ và quán ngữ đều là cụm từ cố định, nhưng thành ngữ có chức năng định danh, gọi tên sự vật một cách gợi cảm, bóng bẩy; Còn quán ngữ là những cụm từ dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên kết, đưa đẩy, rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó.
Chẳng hạn như các quán ngữ được dùng trong phong cách hội thoại như: của đáng tội, nói khí không phải, …. và các quán ngữ được dùng trong phong cách sách vở như: tóm lại, nói cách khác, …” Để khái quát, chúng tôi muốn dùng sơ đồ của Ngô Hữu Hoàng khi phân biệt thành ngữ và quán ngữ [28 a] : CỤM TỪ CỐ ĐỊNH QUÁN NGỮ THÀNH NGỮ Nghĩa Tính Quan Nghĩa Không Quan hệ cú hệ cú đinh thành chức có tính pháp pháp danh ngữ cao nội tại năng thành nội tại chặt không ngữ chẽ chặt chẽ 19 Trên đây là những cách hiểu, những định nghĩa về quán ngữ trong tiếng Việt. Chúng ta sẽ so sánh với những quan niệm về quán ngữ trong tiếng Anh. Trên một trang web [90a] giới thiệu các thuật ngữ ngôn ngữ học có định nghĩa về quán ngữ như sau: “Quán ngữ (Cliché) là một cụm từ, thường có tính ẩn dụ, được sử dụng thường xuyên và trở thành thông dụng trong đời sống hằng ngày”.
Wikipedia – Từ điển bách khoa toàn thư trên mạng internet [90c] có nói về xuất xứ của từ “Cliché” như sau: Từ “Cliché” (quán ngữ) có nguồn gốc từ tiếng Pháp “Cliché” có nghĩa là “ Sự kết hợp âm thanh dành cho những khuôn mẫu”. Từ “Cliché” có nguồn gốc là thuật ngữ trong ngành in ấn dành cho những mẫu ráp chữ có sẵn và sẽ dễ dàng đưa vào trong tài liệu, văn bản được in. Đến nay “Cliché” có ý nghĩa như một cụm từ, một thành ngữ được sử dụng nhiều trong lời nói hằng ngày hay trong các tác phẩm văn chương. Một câu thành ngữ thông dụng sẽ trở thành quán ngữ.
Ví dụ: thành ngữ “See the light at the end of the tunnel” (Nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm) đã trở thành quán ngữ trong tiếng Anh. Như vậy, các quán ngữ tiếng Anh cũng là các thành ngữ, tục ngữ nhưng có nguồn gốc, xuất xứ hay điển tích, thường mang tính ẩn dụ và được những người có uy tín cao trong xã hội như các lãnh tụ, chính khách, các nhà văn, nhà thơ sử dụng trong lời nói, trong tác phẩm của họ nên được những người khác dùng theo và ngày càng thông dụng và phổ biến. (dẫn theo Lê Thuần Thanh Thủy [24, 29] ) Có thể so sánh quán ngữ tiếng Việt và tiếng Anh qua bảng tóm tắt sau [24, 37] : 20 Tiếng Việt Tiếng Anh Quán ngữ (QN) là những cụm từ cố - Quán ngữ là một cụm từ thường có định (CTCĐ) dùng trong lời nói tính ẩn dụ (thành ngữ) được sử dụng hằng ngày, có chức năng liên kết, thường xuyên và thông dụng trong dẫn dắt các nội dung. lời nói hằng ngày.
- Các quán ngữ đều có nguồn gốc, xuất xứ. - Được sử dụng bởi các nhân vật trong các tác phẩm hoặc các nhân vật nổi tiếng. Ví dụ: Ví dụ: Nói khí không phải, của đáng tội…. - Blood is thicker than water Tóm lại, nói cách khác… (Một giọt máu đào hơn ao nước lã).
- See the light at the end of the tunnel. (Nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm) Như vậy rõ ràng là có sự khác biệt trong quan niệm về quán ngữ tiếng Anh và quán ngữ tiếng Việt: - Quán ngữ trong tiếng Anh là những thành ngữ có điển tích - Còn quán ngữ trong tiếng Việt được hiểu như các thành ngữ tiếng Anh 21 Ví dụ: Các quán ngữ tiếng Việt Æ Các thành ngữ tiếng Anh - Thật vậy, thật ra In fact - Nói chung, tóm lại In common - Thêm vào đó In addition to Vì những cụm từ trên được dùng thường xuyên trong đời sống hằng ngày (trong phong cách hội thoại và trong phong cách sách vở), có chức năng liên kết, dẫn dắt các nội dung, trong luận văn này, chúng tôi dùng thuật ngữ quán ngữ liên kết để gọi chung cho các ngữ tiếng Việt và tiếng Anh. Định nghĩa Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), liên kết có nghĩa là “kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng lẻ”. Trong tiếng Việt, khái niệm liên kết được ghép lại từ hai yếu tố: liên và kết.
Liên nghĩa là các thành phần có mối quan hệ, liên hệ với nhau. Kết là làm cho dính lại, gắn bó với nhau. Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng từ ngữ liên kết là những từ ngữ có chức năng nối kết, giúp cho các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ có mối liên hệ với nhau [16]. Trong tiếng Anh, từ ngữ liên kết còn được gọi là từ nối (Linking words), là những từ và ngữ được dùng để nối câu hoặc mệnh đề với nhau nhằm biểu đạt tính liên kết.