chương 1 xoay quanh vấn đề “so sánh các mẫu dữ liệu thống kê” được trình bày trong hai giáo trình chuyên ngành kinh tế. Những phân tích thể chế dạy học hai môn chuyên ngành này sẽ giúp chúng tôi trả lời câu hỏi Q1: Q1: Trong hai giáo trình chuyên ngành kinh tế, so sánh các mẫu dữ liệu thống kê nhằm giải quyết những vấn đề gì? Phương pháp giải quyết như thế nào? Khái niệm, lý thuyết toán nào giải thích cho những phương pháp ấy? 1. So sánh các mẫu dữ liệu thống kê “So sánh các mẫu dữ liệu thống kê” là thuật ngữ viết tắt chúng tôi dùng để chỉ việc so sánh tham số của các tổng thể khác nhau dựa trên những mẫu thu được. Việc so sánh tham số của các tổng thể giúp người ta đưa ra những đánh giá về những tổng thể đó và từ đó có thể đưa ra được kế hoạch phù hợp cho công việc của họ.
Chẳng hạn một công ty muốn mở thêm chi nhánh kinh doanh. Công ty này đi khảo sát thị trường tại hai khu vực A và B về mức thu nhập của người dân. Tại khu vực A họ thu được mẫu A1, tại khu vực B họ thu được mẫu B1. Từ hai mẫu này họ xem xét, đưa ra đánh giá về thu nhập bình quân của hai khu vực A và B xem bên nào cao hơn, sau đó kiểm định lại kết quả.
Khi đã có được kết luận với độ tin cậy cao, công ty sẽ đưa ra quyết định phù hợp là mở chi nhánh tại khu vực A hay B. Trên thực tế, chúng ta có thể thấy việc sử dụng tham số trung bình của các tổng thể để so sánh được sử dụng rất phổ biến như: so sánh nhiệt độ trung bình, lượng mưa trung bình giữa các vùng; so sánh lương trung bình của công nhân giữa các công xưởng; so sánh năng suất cây trồng giữa các vùng,…Tuy nhiên số trung bình không phải là tham số duy nhất của tổng thể mà ngoài ra còn có những tham số khác như số trung vị, mốt, phương sai, độ lệch chuẩn, độ lệch tuyệt đối trung bình,…Các tham số này đều có tác dụng giúp người ta đánh giá tốt hơn về các tổng thể. So sánh các mẫu dữ liệu thống kê trong giáo trình chuyên ngành kinh tế Để trả lời cho câu hỏi Q1, chúng tôi sẽ chọn ra một số giáo trình chuyên ngành hoặc cơ sở ngành có ứng dụng nhiều công cụ và kiến thức của XS –TK để phân tích. Bởi nếu chọn một giáo trình hoàn toàn không liên quan gì tới XS – TK để phân tích thì kết quả có được sẽ không có giá trị.
Thông qua tìm hiểu các giáo trình của trường Đại học Kinh tế TP.HCM cũng như tham khảo ý kiến của một số giảng viên, chúng tôi đã tìm ra một số giáo trình thỏa mãn yêu cầu. Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu có hạn, không cho phép phân tích hết những giáo trình tìm được nên chúng tôi quyết định chọn ra hai giáo trình sau để phân tích: - Phân tích và đầu tư chứng khoán - Giáo trình Kinh tế lượng Chúng tôi xin trích dẫn một số nhận xét về hai bộ môn này: “Kinh tế lượng cung cấp các phương pháp phân tích về mặt lượng mối quan hệ giữa các chỉ tiêu kinh tế cùng với sự tác động qua lại giữa chúng dựa trên cơ sở các số liệu thu thập từ thực tế nhằm củng cố thêm các giả thiết kinh tế từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn hơn” (Hoàng Ngọc Nhậm (2008), tr. 3) “Dù rằng thị trường chứng khoán là một đối tượng hết sức phức tạp, diễn biến tăng giảm của nó rất khó dự báo. Nhưng các nhà kinh tế cùng với các nhà toán học đã cố gắng sử dụng các công cụ của toán học, đặc biệt là các công cụ của Xác suất – Thống kê để mô hình hóa thị trường chứng khoán.
Việc áp dụng các mô hình đó giúp các nhà đầu tư tối đa hóa các cơ hội đạt lợi nhuận và tối thiểu hóa các nguy cơ rủi ro” (Đặng Hùng Thắng (2007)) Ý kiến trên cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa XS-TK với hai môn chuyên ngành kinh tế. Do đó, chúng tôi mong đợi sẽ tìm thấy những vấn đề làm nảy sinh nhu cầu so sánh các mẫu dữ liệu thống kê, trong hai giáo trình được sử dụng trong dạy học hai môn chuyên ngành mà chúng tôi quan tâm. Đồng thời, chúng tôi sẽ chỉ ra những praxéologie có liên quan nhằm hiểu rõ hơn mối quan hệ thể chế đối với tri thức so sánh các mẫu dữ liệu thống kê: tri thức so sánh các mẫu dữ liệu thống kê tồn tại như thế nào, có vai trò gì, chịu những ràng buộc nào của thể chế? Từ đó, chúng tôi sẽ tìm được những “yếu tố” toán thống kê mà thể chế dạy học hai môn chuyên ngành đưa ra để giải quyết các vấn đề liên quan đến so sánh các mẫu dữ liệu thống kê. Đó cũng chính là những “yếu tố” toán cần thiết phải được cung cấp trong môn học XS – TK.
12 Để trả lời câu hỏi Q1 đã đặt ra, chúng tôi sẽ cố gắng tìm câu trả lời cho các câu hỏi sau: - So sánh các mẫu dữ liệu thống kê được sử dụng trong những vấn đề nào? - Có những praxéologie nào liên quan đến so sánh các mẫu dữ liệu TK? Kĩ thuật giải quyết chúng là gì? Yếu tố công nghệ và lý thuyết nào giải thích cho kĩ thuật đó? 1. Phân tích giáo trình Phân tích và đầu tư chứng khoán Trong phần này chúng tôi sẽ tham khảo tài liệu sau: [1] Bùi Kim Yến – Thân Thị Thu Thủy (2009), Phân tích và đầu tư chứng khoán, Nxb Thống kê. Đây là giáo trình được sử dụng trong trường đại học kinh tế TP. Để thuận tiện cho việc trình bày, chúng tôi sẽ ký hiệu giáo trình này là GT1.
Trong giáo trình này, chúng tôi tập trung vào chương II: Mức sinh lời và rủi ro trong đầu tư chứng khoán. Trong chương này, các vấn đề chính đều xoay quanh việc sử dụng tham số của đại lượng ngẫu nhiên (ĐLNN) cũng như so sánh các tham số này để tìm câu trả lời cho những câu hỏi có liên quan đến đầu tư chứng khoán. Đối với một thị trường đầu tư phức tạp và đầy biến động như thị trường chứng khoán, các nhà phân tích phải nắm được những kiến thức cơ bản về lợi nhuận và rủi ro. Chương này cung cấp cho sinh viên các vấn đề xoay quanh mức sinh lời và rủi ro, đưa ra cách tính mức sinh lời, cách tính và đánh giá độ rủi ro của dự án.
Trong mỗi dự án đầu tư chứng khoán, người ta thường phải dự đoán trước lợi nhuận, tức là ước lượng xem đầu tư vào dự án đó sẽ mang lại lợi nhuận là bao nhiêu phần trăm trên 1 đồng vốn đầu tư. Khi đó, nhà phân tích sẽ phải tìm ra các mức sinh lời 1 của mỗi loại chứng khoán - bao gồm lợi nhuận từ cổ tức và chênh lệch giữa giá bán, giá F 0 mua chứng khoán, cũng như xác suất của mỗi mức sinh lời để từ đó tính ra mức sinh lời kỳ vọng. Chính mức sinh lời kỳ vọng là lợi nhuận mà người ta dự tính sẽ thu được: 1 Mức sinh lời: bao gồm lợi nhuận từ cổ tức và chênh lệch giữa giá bán, giá mua chứng khoán. Còn tỷ lệ lợi tức năm là cách xác định mức sinh lời theo tỷ lệ phần trăm.
Nó cho biết lợi nhuận thu được trên mỗi đồng đầu tư. 13 “Các dự án đầu tư khác nhau sẽ có mức sinh lời kỳ vọng khác nhau. Chúng khác nhau vì hiệu quả kinh tế của từng dự án cụ thể, cũng như môi trường đầu tư. Trong tương lai không thể biết chắc được nền kinh tế sẽ như thế nào, nên các nhà phân tích sẽ tìm ra một xác suất để xảy ra một tình trạng kinh tế nào đó.
Mức sinh lời kỳ vọng dựa trên xác suất của từng tình trạng kinh doanh. k = ∑ Pk i i Trong đó: ki: mức sinh lời; pi: xác suất xảy ra” (GT1, tr.58) Trong khi đó, rủi ro: “là khả năng mức sinh lời thực tế nhận được trong tương lai có thể khác với dự tính ban đầu. Độ dao động của lợi suất đầu tư 2 càng cao thì rủi ro càng cao” (GT1, tr.49) 1F Mức độ rủi ro của dự án được đo bằng phương sai, độ lệch chuẩn hoặc hệ số biến động: “Để đo lường rủi ro trong mức sinh lời của một loại chứng khoán, đó là tính toán mức dao động trong mức sinh lời bằng cách sử dụng thước đo phương sai (variance) và độ lệch chuẩn (standard deviation)” (GT1, tr.60) “Một cách đo lường mức độ rủi ro của các phương án khác nữa, là dùng hệ số biến động. Hệ số biến động được tính bằng cách lấy độ lệch tiêu chuẩn chia cho lãi suất mong đợi của phương án đầu tư.
δ CV = ” (GT1, tr.63) k Các tác giả giải thích việc sử dụng hệ số biến động để đo lường rủi ro như sau: r= ( P1 − P0 ) + D1 ([1], tr. 45) P0 Trong đó r là mức sinh lời tính theo %, P0 là giá cổ phiểu đầu năm, P1 là giá cổ phiểu cuối năm, D1 là giá cổ tức trả trong năm. 2 Lợi suất đầu tư: Là phần trăm (%) chênh lệch giữa thu nhập từ chứng khoán có được sau một khoảng thời gian (thường là một năm) và khoản vốn đầu tư ban đầu. Lợi suất của chứng khoán bắt nguồn từ hai nguồn thu nhập: - Lãi định kỳ (cổ tức, trái tức) - Lãi vốn (chênh lệch giá bán và giá mua) 14 “Hệ số biến động chỉ mức độ rủi ro trên một đơn vị của lợi tức, nó cung cấp sự so sánh chính xác hơn trong trường hợp lãi suất mong đợi của hai phương án không như nhau.63) Phương sai, độ lệch chuẩn và hệ số biến động đều là những tham số mô tả mức độ phân tán của các giá trị của một đại lượng ngẫu nhiên (tổng thể) quanh kỳ vọng (giá trị trung bình).
Như vậy phương sai, độ lệch chuẩn hay hệ số biến động của các phương án đầu tư chứng khoán phản ánh mức độ phân tán của những giá trị lợi nhuận quanh lợi nhuận kỳ vọng. Mức độ phân tán này cho chúng ta biết mức độ chênh lệch có thể có giữa lợi nhuận thực tế với lợi nhuận mong đợi (lợi nhuận kỳ vọng). Cũng vì vậy mà những tham số này được sử dụng để đo mức độ rủi ro của các phương án đầu tư chứng khoán. Để sinh viên hiểu rõ hơn về lợi nhuận và rủi ro, tác giả lấy hai ví dụ minh họa.