phần Mở đầu, Mục lục,Phụ lục, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương: Chƣơng I.Tổng quan tình hìnhnghiên cứu và giới thiệuđịa bàn nghiên cứu Chƣơng II. Dân ca của người Nùng ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Chƣơng III. Dân ca của người Choang ở huyện Long Châu, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây Chƣơng IV.Một vài so sánh về dân ca của người Nùng ở tỉnh Lạng Sơn và người Choang ở khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUANTÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVÀ GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứucủa các tác giả Việt Nam Ở Việt Nam, dân tộc Nùng có chung nguồn gốc lịch sử với dân tộc Tày,nên đã có khá nhiều công trình nghiên cứu chung về văn hóa Tày Nùng. Riêng về lĩnh vực dân ca, có thể nhắc đếnLượn cọi Tày Nùng:Sli, lượn Dân ca trữ tình Tày Nùng của Vi Hồng (Nxb. Văn hóa, 1979); Dân ca trữ tình/Cungvăn lược của Lê Bích Ngân sưu tầm và biên soạn (Nxb.
Văn hóa dân tộc, 1987); Sli lượn hát đôi của người Tày Nùngở Cao Bằng của Hoàng Thị Quỳnh Nha (Nxb. Trước đây, người Nùng và người Tày thường chung sống, lao động sản xuất trong cùng một không gian cư trú nhất định nên trong sinh hoạt văn hóa, họ có rất nhiều điểm tươngđồng. Tuy nhiên, không ít những những đặc trưng, những nét độc đáo riêng trong văn hóa của từng tộc người cũng được các nhà nghiên cứu tìm tòi, phân tích.Trong những công trình nghiên cứu riêng về dân ca người Nùng,đáng lưu ýlàDân ca Nùng của Mông Ky Slay, Lê Chí Quế, Hoàng Huy Phát sưu tầm, tuyển, dịch vàbiên soạn (Nxb. Cuốn sách này tập trung giới thiệumột phần vốn dân ca của hai nhóm địa phương dân tộc Nùng là Nùng Cháo vàNùng Phàn Slình, trong đó có các bài đồng dao, các khúc hát tang lễ, Cỏ Lẳu, Sli.
Ngoài ra, còn một số công trình sưu tập từng thể loại dân ca của người Nùng ở tỉnh Lạng Sơn nhưBáo slao sli tò toóp của Mã Thế Vinh sưu tầm, biên dịch và giới thiệu (Nxb. Lao Động, 2011); Cỏ lẳu và sli Nùng Phản Slình Lạng Sơn do Hoàng San sưu tầm và Mã Thế Vinh biên dịch (Nxb.Lao Động, 2012);Sli lớn – dân ca của người Nùng Phàn Slình – Lạng Sơn do Hoàng Tuấn Cư, Hoàng Văn Mộc sưu tầm, Lâm Xuân Đào, Hoàng Tuấn Cư dịch (Nxb.Những công trình trên đã cho thấy 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kho tàng dân ca người Nùng khá đồ sộ về quy mô và phong phú về thể loại, làn điệucũng như nội dung phản ánh. Do người Nùng Việt Nam và người Choang Trung Quốc có quan hệ chặt chẽ, nghiên cứu so sánh về hai tộc người này đã được một số học giả Việt Nam quan tâm; trong đó phải kể đến “Một số hình thức tín ngưỡng dân gian của người Tày, Nùng Việt Nam và người Choang Trung Quốc” của tác giả Nguyễn Thị Yên (2004). Thông qua nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam và dân tộcChoang ở Trung Quốc đều thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái.
Các nhóm dân tộc này có nhiều điểm tương đồng về nguồn gốc lịch sử, địa bàn cư trú, dẫn đến nhiều điểm tương đồng về văn hóa và phong tục tập quán. Tác giả đã trình bày những điểm tương đồng cụ thể về tôn giáo tín ngưỡng của hai tộc người này và phân tích nguyên nhân của sự tương đồng đó. Bên cạnh các công trình liên quan đến người Choang Trung Quốc, có một số tài liệu đã đề cập trực tiếp đến dân ca người Choang Quảng Tây. Có thể kể ra những nghiên cứu như: So sánh kết cấu vần luật trong ca dao của tộc người Choang ở Trung Quốc và trong ca dao của tộc người Việt ở Việt Namcủa tác giả Kiều Thu Hoạch dịch, Vi Thụ Quan (2005); Từ lễ hội Lồng Tồng dân tộc Choang bàn về tết mồng Ba tháng Ba ở Việt Nam của Nguyễn Ngọc Thơ (2008); Ca dao dân tộc Choang - Quảng Tây (so sánh với ca dao dân tộc Tày Nùng – Lạng Sơn) của Hoàng Diệp Hằng (2013),… Trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thơ, thông qua nghiên cứu về lễ hội truyền thống của người Choang Quảng Tây Trung Quốc – lễ hội Long Tong, tác giả kêu gọi sự coi trọng các hình thức văn hóa dân gian của dân tộc và kiến nghị phục hồi lễ hội mồng Ba tháng Ba truyền thống của người Việt Nam.
Ca dao là phần lời của dân ca, là những bài thơ dân gian mang phong cách nghệ thuật chung với lời thơ dân ca. Trong bài “So sánh kết cấu vần luật trong ca dao của tộc người Choang ở Trung Quốc và trong ca dao của tộc 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người Việt ở Việt Nam”, thông qua so sánh kết cấu vần luật trong các hình thức ca dao của hai tộc người Choang – Việt, tác giả cho thấy kết cấu vần luật của hai tộc người này đại thể giống nhau, và đã phân tích bối cảnh văn hóa của sự tương đồng về vần luật trong ca dao hai dân tộc Choang – Việt. Luận văn thạc sỹ của Hoàng Diệp Hằng “Ca dao dân tộc Choang – Quảng Tây (so sánh với ca dao dân tộc Tày Nùng – Lạng Sơn)” đã tập trung nghiên cứu ca dao dân tộc Choang ở các khía cạnh như nguồn gốc văn hóa, nội dung và những phương diện nghệ thuật, trong đó có sự so sánh với ca dao của dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam. Nghiên cứu của các tác giảTrung Quốc Do sự tác động của các chính sách nhà nước Trung Quốc, các vấn đề về văn hóa dân gian ngày càng được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu.
Từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX, dân ca người Choang ngày càng được coi trọng trong bối cảnh khuyến khích bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian truyền thống. Hội nghị về dân ca người Choang lần đầu tiên được triệu tập tại Học viện Dân tộc Quảng Tây vào năm 1984. Tình hình nghiên cứu về dân ca người Choang cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, kể từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX đến nay.Trong đó, các hướng nghiên cứu chủ yếu bao gồm: nghiên cứu về nguồn gốc lịch sử, nghiên cứu về nội dung và hình thức, nghiên cứu về bản thể âm nhạc, nghiên cứu về sự bảo tồn và phát huy. Trong số những công trình nghiên cứu tiêu biểu, phải kể đến những bài viết được công bố trên các tạp chí và báo chí như: -潘其旭( ,壮族歌圩的起源及其发展问题的探讨;民族研究, ) ( ): (Phan Kì Húc (1981),Nghiên cứu về vấn đề khởi nguyên và phát triển của hội chợ dân ca dân tộc Choang; Nghiên cứu Dân tộc, 01 (001), trang.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -周作秋( ),谈壮歌的形式问题;广西师范学院学报 ( ): (Châu Tác Thu (1982), Thảo luận về hình thức dân ca Choang; Báo Học viện Sư phạm Quảng Tây, 04 (004), trang. -黄革( ), 广西壮族民歌概略; 广西大学报 ( ): (Hoàng Cách (1989), Khái lược dân ca dân tộc Choang Quảng Tây; Báo Đại học Quảng Tây, 01(016), trang. -覃桂清( ),论广西民歌中的“对歌”;民族艺术 ( ): (ĐàmQuế Thanh (1994),Thảo luận về “Đối hát” trong dân ca Quảng Tây; Nghệ thuật Dân tộc, 03(009), trang. - 韦桂喜 ,广西壮族民歌演唱风格的探析 ;民族音乐 ( ) (Vi Quế Hỷ (2012), Nghiên cứu và phân tích vềphong cáchdiễn xướng của dân ca người Choang Quảng Tây; Âm nhạc Dân tộc, 2012(01), trang.
-张承伟( ,广西龙州壮族民歌初探;歌海, ) ( ): (Trương Thừa Vĩ (2015), Sơ lược về dân ca người Choang Long Châu Quảng Tây;Ca Hải, 2015(03), trang. -张利群( ),“壮族三月三”歌圩传统及其节庆文化品牌构建; 广西师范学院学报, ( ): của (Trương Lợi Quần(2017), Truyền thống ngày chợ hội dân ca “Mùng Ba Tháng Ba dân tộc Choang” và việc xây dựng thương hiệu văn hóa ngày lễ; Báo Học viện Sư phạm Quảng Tây,03(018), trang. Ngoài các công trình nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chívà báo 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chí,ngày càng nhiều học giả chọn dân ca người Choang làm đềtài nghiên cứu cho khóa luận cử nhân, luận văn thạc sỹ,.Về luận văn Thạc sỹ, có thể kể đến: -李伟华,壮族歌咏文化的现代转型和阐扬;广西师范大学,桂林, (Lý Vĩ Hoa, Sự tuyên truyền và chuyển hình hiện đại của văn hóa dân ca dân tộc Choang; Đại học Sư phạm Quảng Tây, Quế Lâm, 2006). - 吴晓山,壮族民歌的当下境遇;广西师范大学, (Ngô Hiểu Sơn, Hoàn cảnh hiện nay của dân ca người Choang; Đại học Sư phạm Quảng Tây,Quế Lâm,2007).
- 李安然,改革开放以来壮族民歌的传承与创新研究;广西师范大 学,桂林, (Lý An Nhiên, Nghiên cứu về sáng tác và kế thừa của dân ca người Choang từ khi bắt đầu cải cách mở cửa;Đại học Sư phạm Quảng Tây, Quế Lâm, 2011). - 蔡阿利 南宁市壮族歌圩文化旅游开发研究 广西师范学院 南宁, (Thái A Lợi, Nghiên cứu về khai thác ngành du lịch văn hóa hộichợ dân ca người Choang ở thành phố Nam Ninh; Học viện Sư phạm Quảng Tây, Nam Ninh, 2011)… Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu về sự bảo tồn và phát huy của dân ca người Choang,trong đó, đáng lưu ý hơn cả là luận văn của Thái A Lợi,khi tác giả đã phân tích được tiềm năng du lịch của hội chợdân ca và đề xuất những giải phápđể phát triển du lịch văn hóadân tộc. Thông qua những công trình nghiên cứu trên, người đọc thấy được những triển vọng của các loại hình văn hóa dân gian của dân tộc trong phục vụ phát triển ngành du lịch. Trong số những công trình về dân ca người Choang Quảng Tây, cómột số tác giả Trung Quốc đề cập đến cả người Nùng ở Việt Nam, tiêu biểu là một 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com số luận văn Thạc sỹ và luận án Tiến sỹ như: 黄小奕 跨境壮语研究 华中科 技大学 武汉 (Hoàng Tiểu Dịch, Nghiên cứu về tiếng Choang vượt cảnh; Đại học Khoa học kỹ thuật Hoa Trung, Vũ Hán, 2005); 蒲春春 壮 岱侬语熟 语比较研究 广西民族大学 南宁 (Bồ Xuân Xuân, Nghiên cứu về sự so sánh của tục ngữ tiếng Tày Nùng và tiếng Choang,Đại học Dân tộc Quảng Tây, Nam Ninh, 2008); 欧阳武 越南岱侬语和中国壮语南部方言语音比较 研究 广西民族大学 南宁 (Âu Dương Vũ, Nghiên cứu về ngữ âm của phương ngữ nam bộ tiếng Choang Trung Quốc và tiếng Tày Nùng Việt Nam từ góc nhìn so sánh, Đại học Dân tộc Quảng Tây, 2015);…Những công trình trên chủ yếu nghiên cứu về ngôn ngữ của dân tộc Tày-Nùng Việt Nam và dân tộc Choang Trung Quốc, chỉ ra những điểm tương đồng trong ngôn ngữ của hai nhóm dân tộc này, đồng thời cho thấysự liênquan giữa tiếng Tày-Nùng với tiếng Choang.
Một số nghiên cứu khác đã chứng minh, dân tộc Choang Quảng Tây và dân tộc Tày, Nùng Việt Nam có quan hệ gần gũi, qua việc tìm ra khá nhiều điểm tương đồng về tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán và văn hóa xã hội giữa hai tộc người này.