chương 1 luận văn tập trung đề cập khái quát về tình hình nghiên cứu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt và tiếng Nhật đồng thời nêu lên các cơ sở lý thuyết về các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng. Ngoài ra chương này còn giới thiệu các phương thức cấu tạo của các lớp từ này và mối quan hệ của chúng với từ loại trong hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Nhật.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt Trong tiếng Việt, khái niệm từ tượng thanh, từ tượng hình ít được đề cập đến một cách chính thức mà hầu như chỉ được các nhà nghiên cứu đề cập đến khi miêu tả từ láy, nếu có tác giả đề cập đến thì cũng chỉ được tập trung khảo sát ở nhóm từ tượng thanh (Hồ Lê, Hoàng Văn Hành). Hoàng Văn Hành (1985) đã tiến hành khảo sát về từ láy, trong đó có đề cập đến nhóm những từ láy mô phỏng âm thanh gồm những từ láy tượng thanh và những từ “tiếng vang” như leng keng, tí tách, róc rách,… và nhóm từ biểu thị thuộc tính, trạng thái, quá trình như luộm thuộm, la cà, bâng khuâng, mênh mông,… Tuy nhiên, tác giả không nghiên cứu mảng “từ láy tượng hình” mặc dù ông cũng có nhắc đến các loại nghĩa của từ tượng hình nói chung, là miêu tả “thuộc tính”, “phương thức của hành động hay quá trình”, “cách thức diễn ra quá trình”, “mức độ khác nhau của phẩm chất, trạng thái”, “mức độ khái quát hóa, tổng hợp của sự vật, hiện tượng”. Hồ Lê (1976) thì tập trung nghiên cứu sâu hơn về mảng từ tượng thanh.
Ông phân nhóm từ này thành từ tượng thanh thực (là những từ mô phỏng tiếng động như: cách, bụp, cúc cu…) và tượng thanh giả (là từ sinh ra từ những từ tượng thanh thực nhưng không trực tiếp mô phỏng tiếng động như: líu lo, râm ran, thút thít…). Thế nhưng, nhóm từ tượng hình cũng không được tác giả tiến hành khảo sát. Tác giả có miêu tả nghĩa của các từ thuộc mô hình lắp láy đơn có khả năng biểu thị một trạng thái hoặc một hành động với tính chất, mức độ như thế nào đó (từ tượng hình). Đỗ Hữu Châu (1997) khi tiến hành nghiên cứu về từ láy có đề cập đến từ tượng thanh và từ tượng hình như là những từ tượng thanh có hình thức láy, như rả rích, róc rách, cọc cạch,… có thể xem là những từ láy (láy cái âm cần mô 6 phỏng để đưa vào ngôn ngữ), hoặc các từ mô phỏng vận động.
Ngoài ra, Diệp Quang Ban (2004) có đề cập đến “từ láy phỏng thanh (là từ láy mô phỏng âm thanh)”, “từ láy sắc thái hóa”, “từ láy cách điệu” khi nghiên cứu về từ láy. Hoàng Anh Thi (2005) đã đề cập đến một số quan niệm và cách phân loại của từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Nhật, phân tích phương thức cấu tạo, đặc trưng ngữ âm – ngữ nghĩa, chức năng ngữ pháp của lớp từ này, và đưa ra một vài sự so sánh với từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt. Ngoài ra, đề tài về từ tượng thanh, từ tượng hình cũng được một số học viên cao học Việt Nam lựa chọn để làm luận án, luận văn. Chẳng hạn, Hoàng Thiên Thanh (2015) nghiên cứu đối chiếu từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Hàn và tiếng Việt đã giới thiệu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong hai ngôn ngữ về các đặc điểm cấu tạo, chức năng cú pháp cũng như về mặt ngữ dụng để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ này.
Lai Huyền Tôn Nữ Khánh Quỳnh (2017) nghiên cứu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Nhật và khuynh hướng dịch thuật các lớp từ này trong các truyện tranh manga của Nhật sang tiếng Việt. Ngô Thị Huệ (2017) khi nghiên cứu “Về sự thụ đắc từ tượng thanh và tượng hình ở trẻ tiền học đường”, có giới thiệu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt, và cách cấu tạo nên chúng và đi sâu khảo sát về quá trình thụ đắc từ tượng thanh, từ tượng hình của trẻ từ 0 đến 3 tuổi. Nhìn chung, thông qua việc tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt cho đến nay, có khá ít tài liệu của Việt Nam tiến hành nghiên cứu một cách chính thức, chuyên sâu và riêng biệt về từ tượng thanh, từ tượng hình. Và nguồn tài liệu có đề cập rõ ràng, chi tiết về các lớp từ này trong tiếng Việt cũng rất hạn hẹp.
Những nghiên cứu trước chỉ mới đề cập đến một số nét chung về cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng chứ chưa chú trọng đến nghiên cứu sâu hơn về các đặc điểm ngôn ngữ này của các từ tượng thanh, từ tượng hình thông qua ngữ liệu các tác phẩm văn học, nơi thể hiện sinh động một thế giới tương tự như thế giới thực tế để có thể giúp hiểu rõ hơn được đặc điểm này của từ tượng thanh, từ tượng hình.2 Tình hình nghiên cứu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Nhật So với tiếng Việt, các công trình nghiên cứu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Nhật khá phong phú. Masuno Nao [増野奈央] (2007) đã khảo sát khuynh hướng sử dụng từ tượng thanh, từ tượng hình trong các tác phẩm văn học Nhật Bản, phân tích về 7 mặt cú pháp học, âm vị học, sử dụng từ điển để khảo sát liệu có khuynh hướng từ vựng hoá các từ tượng thanh, từ tượng hình hay không, và làm sáng tỏ lập luận “Từ tượng thanh, từ tượng hình là để nói về những từ như thế nào?”. Kasai Kenji [葛西健治] (2012) đã khảo sát các từ tượng thanh, từ tượng hình trong các bài hát dành cho trẻ em Nhật Bản, và xác định vai trò của từ tượng thanh, từ tượng hình trong bài hát đối với việc giáo dục trẻ em. Huang Hui [黄慧] (2016) đã nghiên cứu cách sử dụng từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Nhật với vai trò là phụ từ, cụ thể tác giả đã khảo sát trên toàn bộ 40,988 ví dụ thu thập được, có bao nhiêu từ tượng thanh, từ tượng hình được sử dụng kết hợp với trợ từ 「に」 hay với trợ từ「と」 hoặc bổ nghĩa trực tiếp cho động từ mà không kết hợp với trợ từ nào, từ đó tính tần suất sử dụng của chúng và vai trò bổ nghĩa cho động từ.
Trong nghiên cứu này, tác giả cũng đề cập đến mối tương quan giữa từ tượng thanh, tượng hình và yếu tố thời gian trong tiếng Nhật. Kim Mong Yeong [金夢瑩] (2017) tập trung nghiên cứu đặc trưng ý nghĩa của các âm tiết đặc biệt /-Q/ (âm ngắt), /-N/ (âm /n/), /-ri/ khi góp phần cấu tạo nên từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Nhật. Nguyễn Thị Thanh Thuỷ [グエン・ティ・タイン・トゥイ] (2017) đã tiến hành tìm hiểu các học viên Việt Nam học tiếng Nhật đang học từ mô phỏng tiếng Nhật bằng phương pháp như thế nào, và làm sáng tỏ lập luận liệu rằng cùng một tình huống khi miêu tả hiện tượng giống nhau, có sự tồn tại của từ mô phỏng tương ứng với tiếng Nhật hay không. Nguyễn Thị Thanh Thuỷ [グエン・ティ・タイン・トゥイ] (2018) tập trung nghiên cứu mức độ sử dụng một cách hợp lý từ tượng thanh, từ tượng hình tiếng Nhật của học viên Việt Nam, và năng lực sử dụng chúng khác nhau như thế nào tùy theo kinh nghiệm sống ở Nhật và năng lực tiếng Nhật.
Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu vấn đề khi học viên Việt Nam không biết được từ tượng thanh, từ tượng hình phù hợp thì họ sẽ biểu đạt các ý tưởng bằng ngôn ngữ với cách thức như thế nào. Nakazato Michiko [中里理子] (2018) đã tiến hành khảo sát tất cả các từ tượng thanh, từ tượng hình được sử dụng trong các tác phẩm trung đại tập trung vào nhóm các tác phẩm truyền thuyết được ghi chép lại là“Kokon Chomonjū” và “Shasekishū”, từ đó tổng hợp các đặc trưng của từ tượng thanh, từ tượng hình của các câu chuyện truyền thuyết này. 8 Yoshinaga Nao [吉永尚] (2019) đã đưa ra cách phân loại từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Nhật theo phương thức cấu tạo, và nêu lên các đặc trưng của mỗi loại tương ứng. Ono Masahiro [小野正弘] (2019) tìm ra sự thay đổi của ý nghĩa từ tượng thanh, từ tượng hình trong tác phẩm văn học hiện đại.
Ngoài ra, cũng có học viên cao học đã nghiên cứu các đề tài về từ tượng thanh, từ tượng hình trong tiếng Việt và tiếng Nhật. Chẳng hạn, Bùi Thị Hoa [ブイ・ティ・ホア] (2014) đã nghiên cứu về hình thái của lớp từ này trong hai ngôn ngữ, mối quan hệ về ngữ âm và ý nghĩa của chúng trong tiếng Việt và tiếng Nhật, và tiến hành phân tích tình trạng chuyển dịch lớp từ này từ tiếng Nhật sang tiếng Việt ở một số truyện tranh và một tác phẩm văn học của Nhật. Ngoài ra tác giả cũng đã khảo sát các vấn đề khó khăn của học viên Việt Nam khi học từ tượng thanh, từ tượng hình tiếng Nhật. Lương Thị Thùy Dương [ル オン・ティ・トウー・ズオン] (2014) ngoài việc giới thiệu từ tượng thanh trong tiếng Nhật, tập trung làm rõ mối tương quan giữa ý nghĩa và hình thái, và tiến hành đối chiếu với lớp từ này ở tiếng Việt để tìm ra điểm tương đồng và dị biệt của chúng trong hai ngôn ngữ, và tìm ra các đặc trưng về tư tưởng, tình cảm của con người ở cả hai dân tộc.
Như vậy, mặc dù các tác giả ở Việt Nam và Nhật Bản có tiến hành nghiên cứu về từ tượng thanh, từ tượng hình trong hai ngôn ngữ tiếng Nhật và tiếng Việt, nhưng chưa có một nghiên cứu nào chuyên sâu về đặc điểm ngôn ngữ của hai lớp từ này, đặc biệt đối với nghiên cứu đối chiếu các đặc điểm ngôn ngữ (ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng) thông qua nguồn ngữ liệu các từ điển hoặc các tác phẩm văn học của hai ngôn ngữ, qua đó có thể xác định được nét tương đồng và dị biệt về khuynh hướng sử dụng các lớp từ này trong hai ngôn ngữ và hiểu rõ hơn các yếu tố về văn hoá, tâm lý. của người Việt và người Nhật thông qua việc sử dụng từ tượng thanh, từ tượng hình. Vì thế, luận văn này sẽ thực hiện đối chiếu các đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của các lớp từ này trong hai ngôn ngữ để làm sáng tỏ các vấn đề trên.1 Bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng trong nghiên cứu ngôn ngữ 1.