CHƯƠNG I TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN TỔ HỢP TỪ VÀ ĐỘNG TỪ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT. Khái quát về đối chiếu ngôn ngữ 1. Vài nét khái quát về phương pháp so sánh đối chiếu Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ đối chiếu, với tư cách là một phân ngành của ngôn ngữ học, có những tiền đề lý luận của nó. Đã từ lâu, con người hướng sự chú ý của mình không chỉ giới hạn ở những ngôn ngữ riêng lẻ, mà đồng thời một lúc vài ngôn ngữ.
Chính điều đó đã dẫn đến việc xuất hiện nhiều trào lưu, nhiều khuynh hướng nghiên cứu so sánh. Khá quen thuộc với lịch sử ngôn ngữ học là: ngôn ngữ so sánh - lịch sử, ngôn ngữ học khu vực và loại hình học. Song việc phân chia ngôn ngữ học đối chiếu (contrastive linguistics) thành một phân ngành độc lập thi mãi tới gần đây mới xuất hiện va còn không ít những vấn đề tranh luận. Ngôn ngữ học đối chiếu hình thành trong trào lưu nghiên cứu so sánh nói chung.
Nó bao quát một lúc nhiều ngôn ngữ bất luận ngôn ngữ đó cùng hay khác loại hình và ngữ hệ. Song phải nói rằng, nghiên cứu đối chiếu hình thành một cách trực tiếp trong tiến trình tìm tòi của con người để nắm ngoại ngữ một cách nhanh chóng hơn, hữu hiệu hơn. Chính các yêu cầu của việc học và dạy ngoại ngữ là một nhân tố quan trọng dẫn đến sự hình thành phân ngành khoa học này. Nhà ngôn ngữ học Pháp Di Pietorô đã viết trong cuốn Cấu trúc ngôn ngữ qua đối chiếu rằng: “Ngôn ngữ học đối chiếu ra đời từ kinh nghiệm dạy tiếng.
Mỗi người học và dạy ngôn ngữ dễ dàng nhận ra một điều là trong nhiều trường hợp tiếng mẹ đẻ đã cản trở không nhỏ việc hiểu và nắm thuần thục ngoại ngữ. Vì vậy, việc tích luỹ những tri thức và kinh nghiệm sẽ giúp ta khắc phục một cách có hiệu quả khó khăn này”. [dẫn theo 36; tr. Serba đã viết trong cuốn sách Dạy ngoại ngữ ở trường trung học.
Vấn đề chung về phương pháp luận cũng cho rằng nghiên cứu đối chiếu không chỉ giúp cho việc học và dạy ngoại ngữ tốt hơn mà còn giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn tiếng mẹ đẻ, vì việc nghiên cứu đó giúp chúng ta thâm nhập vào thực chất của các quá trình ngôn ngữ cũng như hiểu sâu hơn các quy luật điều khiển các qui trình này [19; tr. Không còn nghi ngờ gì nữa chúng ta có thể đồng ý với nhận định rằng: “Mặc dầu nghiên cứu đối chiếu viện dẫn cái lý do chủ yếu ở sự cần thiết cho giáo học pháp ngoại ngữ với sự phát hiện những khác nhau cơ bản giữa ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ của người học đó, chúng ta không thể không tính đến tầm quan trọng của việc phân tích đối chiếu như một phương thức đánh giá các định đề cũng như những đòi hỏi của chính lý luận của ngôn ngữ học” [36, tr. Khái niệm về thuật ngữ so sánh đối chiếu Lịch sử phát triển của những tri thức khoa học bao giờ cũng là một quá trình liên tục và có tính kế thừa. Nội dung của các thuật ngữ nghiên cứu đối chiếu cũng được xác định trong quá trình phát triển biện chứng lịch sử đó.
ở đây, trước hết cần nói đến mối quan hệ tương ứng trong cách dùng các thuật ngữ: ngôn ngữ học so sánh, ngôn ngữ học đối chiếu. Trong nghĩa thường dùng, hai từ so sánh và đối chiếu không khác nhau nhiều về ý nghĩa. “So sánh” là xem xét để tìm ra những điểm giống, tương tự, hoặc khác biệt nhau về số lượng, kích thước, phẩm chất, còn “đối chiếu” là so sánh hai sự vật có liên quan chặt chế với nhau. Đối chiếu nguyên bản với bản dịch (Từ điển tiếng Việt, Văn Tân chủ biên) [TD 24].
Như đã thấy, không hẳn định nghĩa trên đây là hoàn toàn chính xác, nhưng chúng đã cho ta ý niệm về nội dung các kết hợp thuật ngữ “ngôn ngữ học so sánh”, “ngôn ngữ học đối chiếu” là chưa hoàn toàn chính xác. Cách hiểu nội dung thuật ngữ cần chính xác hơn và có tính quy định hơn cách hiểu thông thường. Trong ngôn ngữ học, các thuật ngữ tiếng Việt: ngôn ngữ học so sánh tương ứng với tiếng Anh comparative linguistics. Đó là thuật ngữ dé chỉ một phân ngành của ngôn ngữ học và cái nội dung từ “so sánh” được hiểu một cách rất xác định.
Việc xem xét kỹ những tài liệu ngôn ngữ học cho thấy một số nhà ngôn ngữ có ý thức phân biệt ngôn ngữ học so sánh trong nghĩa rộng với ngôn ngữ học so sánh - lịch sử. Trong trường hợp thứ nhất thuật ngữ “so sánh” dường như chủ yếu chỉ nhấn mạnh cách tư duy, về việc sử dụng so sánh như một phương pháp chung của tư duy: vì vậy, người ta cũng có thể nói: so sánh - lịch sử, so sánh loại hình, so sánh đối chiếu v. Song trường hợp thứ hai, thuật ngữ so sánh được dùng với nội dung khái niệm ngôn ngữ học so sánh - lịch sử. Đây cũng là cách dùng có tính chất rút gọn.
Thuật ngữ đối chiếu, đối sánh thường được dùng để chỉ phương pháp hoặc phân ngành nghiên cứu lấy đối tượng chủ yếu là hai hay nhiều ngôn ngữ. Mục đích của nghiên cứu là làm sáng tỏ những nét giống nhau và khác nhau hoặc chỉ làm sáng tỏ những nét khác nhau mà thôi. Nguyên tắc nghiên cứu chủ yếu là nguyên tắc đồng đại. Trong các tài liệu bằng tiếng Anh, lúc đầu người ta dùng phổ biến thuật ngữ comparative dé chỉ ngôn ngữ học so sánh trong nghĩa rộng và nghĩa hẹp của từ này.
Dần dần về sau thuật ngữ so sánh cũng dùng để chỉ cả nội dung đối chiếu. Trong ngôn ngữ học Anh, những thuật ngữ truyền thống được dùng tương đối lâu dài. Chẳng hạn, trong các công trình của Haliday, Mackinton và một số tác gia khác, cho mãi đến năm 1964, vẫn dùng thuật ngữ so sánh comparative. Và ngay cả Elic mãi đến năm 1966 vẫn dùng thuật ngữ comparative với nghĩa đối chiếu.
Cho đến gần đây thuật ngữ “ngôn ngữ học đối chiếu” - contrastive linguistics mới được dùng với nghĩa của nó một cách phổ biến tức là chỉ một phân ngành nghiên cứu riêng - nghiên cứu đối chiếu. Trong phần lớn tài liệu viết bằng các tiếng châu Au cho thấy có sự chuyển dần phân biệt so sánh đối chiếu và ngôn ngữ học so sánh lịch sử với ngôn ngữ học đối chiếu. Việc dùng phân biệt đối chiếu và tương phản thì không thật sự thể hiện rõ ràng. Trong thức tiễn nghiên cứu, nhiều nhà nghiên cưú đã chỉ rõ, việc phân tách ra cái giống nhau và khác nhau trong đối chiếu là rất khó.
Nó được thực hiện một cách đồng thời. Xác định cái khác nhau phải biết cái giống nhau cùng tồn tại giữa các sự vật. Song bao giờ cái khác nhau cũng dễ nhận thấy hơn. Nói chung, nghiên cứu đối chiếu giúp ta xác định cái giống nhau và khác nhau của các ngôn ngữ về mặt cấu trúc, hoạt động và sự phát triển của chúng.
Phương pháp so sánh đối chiếu Phương pháp đối chiếu hay phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu có một hệ thống nguyên tắc, thủ pháp nghiên cứu riêng. Nó khác với phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh - lịch sử. Nhưng đồng thời, phương pháp nghiên cứu này có kế thừa và sử dụng nhiều yếu tố, thủ pháp của nghiên cứu miêu tả và so sánh - lịch sử. Chính điều này đã tạo ra đặc điểm riêng, lợi thế và triển vọng của phương pháp nghiên cứu đối chiếu.
Trước hết chúng ta hãy xem xét một số đặc điểm chủ yếu của phương pháp đối chiếu. Xác lập cơ sở đối chiếu Xác lập cơ sở đối chiếu là xác định đối tượng nghiên cứu cụ thể, định rõ đặc điểm đối tượng và định hướng các hoạt động, các bước nghiên cứu nhất định. Cơ sở đối chiếu là những điểm giống và khác nhau hay những tương đồng và di biệt của phạm vi đối tượng được khảo sát. Thông thường các ngôn ngữ, các hiện tượng càng giống nhau thì càng có nhiều điểm chung, dấu hiệu chung.
Nếu như hai hay một số ngôn ngữ, hiện tượng càng khác nhau thì những điểm khác, dấu hiệu khác càng nhiều. Cơ sở đối chiếu của phương pháp đối chiếu không chỉ khác với phương pháp so sánh - lịch sử (đều là so sánh ngoài - giữa các ngôn ngữ với nhau) mà còn phân biệt đối chiếu và đối lập. Phương pháp đối chiếu nhằm mục đích đối chiếu các hiện tượng, phạm trù của các ngôn ngữ khác nhau để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt; trong trường hợp chỉ có sự dị biệt thì có thể hiểu là tương phản. Còn đối lập là dùng để đối chiếu các hiện tượng trong cùng một ngôn ngữ, đối lập là sự khác biệt ở hai cực trong một phạm trù như: danh từ và động từ, chủ ngữ và vị ngữ, nguyên âm và phụ âm, thể hoàn thành và không hoàn thành.
Phạm vi đối chiếu Việc xác định phạm vi đối chiếu thường duoc phân giới theo các nguyên tắc sau: Phân biệt đối chiếu ngôn ngữ và đối chiếu dấu hiệu. Đối chiếu ngôn ngữ là qui định phạm vi nghiên cứu các ngôn ngữ khác nhau. Đó là cách đối chiếu tổng thể hoặc bao quát chung. Việc lựa chọn ngôn ngữ đối chiếu cũng có hai khả năng chính.
1) Lấy một ngôn ngữ là cơ sở, tức là ngôn ngữ này làm ngôn ngữ đối tượng để phân tích, làm sáng tỏ. Ngôn ngữ (hay các ngôn ngữ) còn lại sẽ là phương tiện, là điều kiện qui chiếu cho phép làm sáng tỏ đặc điểm của ngôn ngữ đối tượng. Ngôn ngữ đối tượng cần được tập trung phân tích có thể hoặc là chỉ có ý nghĩa cho nó, hoặc là có thể đại diện cho một số ngôn ngữ khác. Nó là cá thể riêng biệt và cũng có thể là cái mẫu, là tiêu điểm chú ý của việc nghiên cứu nhiều mặt.
Chẳng hạn, trong quá khứ ở phương Tây tiếng Latinh đã là tiêu điểm, là cơ sở để đối chiếu với tiếng Pháp, tiếng Anh, và các tiếng Slavơ. 2) Khả năng thứ hai là cả hai hay các ngôn ngữ đối chiếu đều được chú ý như nhau. Trong trường hợp như thế gọi là phân tích đối chiếu song ngữ. Trong phân tích đối chiếu song song, phạm vi các vấn đề đối chiếu sẽ được chú ý đồng đều về tất cả các mặt ở ngôn ngữ đưa vào nghiên cứu.
Khả năng này được vận dụng để tìm cái chung và cái riêng ở các ngôn ngữ so sánh, từ đó ứng dụng thực tiễn trong dạy học ngoại ngữ hay phiên dịch.