CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Năng lực hợp tác. Khái niệm năng lực hợp tác.
Năng lực luôn gắn liền với một hoạt động cụ thể nào đó, nếu năng lực gắn với những hoạt động hợp tác trong nhóm thì sẽ được gọi là năng lực hợp tác. Căn cứ các tài liệu tham khảo, các công trình khoa học của các đồng nghiệp, chúng tôi sử dụng định nghĩa về năng lực hợp tác như sau: Năng lực hợp tác là những khả năng tổ chức, quản lý nhóm, đồng thời thực hiện các hoạt động trong nhóm một cách thành thạo, sáng tạo, linh động nhằm giải quyết nhiệm vụ một cách hiệu quả nhất. Như vậy năng lực hợp tác có bản chất là sự kết nối giữa các cá nhân với nhau để phối hợp giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ được giao. Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, năng lực hợp tác bao gồm các nhóm kĩ năng sau: Nhóm kĩ năng tổ chức và quản lí (kĩ năng tổ chức nhóm hợp tác; kĩ năng lập kế hoạch hợp tác; kĩ năng tạo môi trường hợp tác; kĩ năng giải quyết mâu thuẫn).
Nhóm kĩ năng hoạt động (kĩ năng diễn đạt ý kiến; kĩ năng lắng nghe và phản hồi; kĩ năng viết báo cáo). Nhóm kĩ năng đánh giá (kĩ năng tự đánh giá, kĩ năng đánh giá lẫn nhau Bảng 1. Các kĩ năng thành phần và tiêu chí biểu hiện của mỗi kĩ năng Kĩ năng Tiêu chí biểu hiện 1. Xác định mụcđích và - Đề xuất mục tiêu học tập một cách chủ động.
phương thức hợp tác - Biết lựa chọn quy mô phù hợp tương ứng với hình thức làm việc nhóm. Xác định tráchnhiệm - Hoàn thành nhiệm vụ của nhóm bằng cách thực hiện và hoạt động của bản tốt công việc của bản thân. thân - Đối với công việc khó khăn của nhóm thì bản thân luôn sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Xác định nhu cầu và - Biết theo dõi và đánh giá được khả năng hoàn thành khả năng của người hợp công việc của từng thành viên trong nhóm.
tác - Nếu phương án phân công công việc, tổ chức hoạt động học tập chưa hợp lý thì cần biết đề xuất điều chỉnh phương án phân công công việc và tổ chức hoạt 4 động học tập một cách hợp lý nhất. Tổ chức và thuyết - Biết điều hòa hoạt động phối hợp. phục người khác - Luôn nhiệt tình chia sẻ hỗ trợ các thành viên trong nhóm và biết khiêm tốn tiếp thu sự góp ý của mọi người. - Căn cứ vào mục đích hoạt động của các nhóm, đánh 5.
Đánh giá hoạt động giá được mức độ đạt mục đích của cá nhân, của nhóm hợp tác và nhóm khác. - Bản thân cần phải tự đúc rút kinh nghiệm cho mình. - Mạnh dạn góp ý cho từng người trong nhóm. Vai trò của việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học.
Đối với nhà trường, dạy học theo hướng rèn luyện năng lực hợp tác cho HS giúp nâng cao hiệu quả của nhà trường trong nhiệm vụ phát triển nhận thức, nhân cách, tình cảm của HS. Nhà trường là một xã hội thu nhỏ lại, mà mỗi HS đều có vai trò như nhau, có sự giáo dục và phát triển đồng đều. Đối với HS, sự hình thành năng lực hợp tác có ý nghĩa tích cực. Nó góp phần làm cho HS có được thành tích học tập hiệu quả hơn; đảm bảo sự phát triển phù hợp giữa cá nhân và môi trường xã hội, chiếm lĩnh nhiều giá trị xã hội, hoàn thiện về nhân cách và hành vi cá nhân.
Điều này tạo tiền đề vững chắc để khi bước vào xã hội với những mối quan hệ phức tạp, HS không những nhanh chóng thích nghi mà còn có thể xây dựng và hưởng lợi từ các mối quan hệ xã hội đó. Đây là một trong những cơ sở dẫn đến sự thành công của mỗi cá nhân trong cuộc sống. Để đánh giá năng lực nói chung và năng lực hợp tác nói riêng trong hoạt động giáo dục, người ta tiến hành xây dựng và sử dụng bộ tiêu chí – Rubrich đánh giá năng lực để đánh giá thông qua các hình thức đánh giá: HS tự đánh giá, HS đồng đẳng và GV đánh giá HS thông qua quá trình quan sát. Về công cụ đánh giá năng lực nói chung và năng lực hợp tác nói riêng, chúng ta thường dựa trên bộ tiêu chí – Rubich để xây dựng hệ thống bảng hỏi và bảng kiểm với các mục đích đánh giá theo nguyên tắc sau: + Đối với bảng hỏi dùng cho HS tự đánh giá về năng lực của mình thông qua các nội dung hỏi trong bảng.
+ Đối với bảng kiểm dùng cho HS đánh giá đồng đẳng và GV đánh giá HS thông qua quan sát. Phương pháp dạy học theo trạm. Khái niệm dạy học theo trạm Dạy học theo trạm (hay còn gọi là dạy học theo góc, học tập theo trạm) là 5 một phương pháp tổ chức hoạt động học tập trong đó học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập khác nhau tại các vị trí khác nhau trong lớp học (gọi là các trạm). Mỗi trạm sẽ có một nhiệm vụ cụ thể, độc lập với các trạm khác và được trang bị các phương tiện, tư liệu học tập phù hợp.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở một trạm, học sinh sẽ di chuyển đến trạm khác để tiếp tục học tập. Đặc điểm của dạy học theo trạm Tính đa dạng: Các trạm học tập cung cấp cho học sinh nhiều hoạt động học tập phong phú, đa dạng, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động, tích cực và hiệu quả hơn. Tính độc lập: Mỗi trạm học tập có một nhiệm vụ cụ thể, độc lập với các trạm khác, giúp học sinh phát triển khả năng tư duy độc lập, giải quyết vấn đề và rèn luyện kỹ năng học tập. Tính hợp tác: Học sinh có thể học tập theo nhóm hoặc cá nhân tại các trạm học tập, giúp phát triển kỹ năng giao tiếp, hợp tác và làm việc nhóm.
Tính linh hoạt: Giáo viên có thể linh hoạt thay đổi số lượng trạm học tập, thời gian học tập tại mỗi trạm và các hoạt động học tập tại mỗi trạm để phù hợp với nội dung bài học và khả năng của học sinh. Các loại hình thức dạy học theo trạm - Vòng tròn học tập đóng (hình 1. - Vòng tròn học tập mở (hình 1. - Vòng tròn học tập với các trạm tự chọn (hình 1.
- Vòng tròn học tập kép (hình 1.4 Trên mỗi vòng tròn học tập có nhiều giai đoạn khác nhau, HS có sự lựa chọn một trạm phù hợp với khả năng và sở thích của mình. Trạm cố định là trạm có vị trí xác định tại một nơi nào đó trong lớp học nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc học. Trạm bên ngoài là một trạm được đặt bên ngoài lớp học, ngoài khu vực học. Trạm đệm là trạm hỗ trợ làm việc cho một trạm chính nào đó.
6 Trạm giám sát – dịch vụ là trạm được đặt tại một vị trí trung tâm của vòng tròn học tập nhằm cung cấp thông tin cho các trạm khác, cung cấp đáp án cho các trạm để HS so sánh kết quả sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Trạm này thường được bố trí tách rời vòng tròn học tập. Ưu điểm và hạn chế của hình thức học tập theo trạm Ưu điểm: HS được tự chủ, tích cực hoạt động tham gia giải quyết các nhiệm vụ học tập, phát triển khả năng, tốc độ làm việc của cá nhân. HS tự kiểm tra, đánh giá kết quả của cá nhân và của nhóm mình, qua đó nâng cao năng lực đánh giá của bản thân.
HS có cơ hội nâng cao kĩ năng làm việc theo nhóm, các kĩ năng tranh luận, các phương pháp giải quyết vấn đề. Giúp GV cá biệt hóa được trình độ của từng HS, qua đó bồi dưỡng HS giỏi và rèn luyện HS yếu. Nâng cao hứng thú của HS nhờ các nhiệm vụ học tập tích cực, đặc biệt là những nhiệm vụ thiết kế chế tạo và thực hiện các thí nghiệm đơn giản. Khắc phục được khó khăn thiếu thốn về trang thiết bị nếu cho HS tiến hành đồng loạt.
Mở rộng kiến thức của HS một cách đầy đủ và toàn diện. Phát triển những kĩ năng xã hội cho HS. Phát triển khả năng nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của một vấn đề. Nhược điểm: GV phải nỗ lực rất lớn trong việc chuẩn bị các vòng tròn học tập, phải có thời gian chuẩn bị nội dung và nguyên vật liệu công phu.
Thời gian cần để tiến hành dạy học một đơn vị kiến thức theo hình thức này thường dài hơn thời gian khi dạy dưới hình thức truyền thống. Thường gây tiếng ồn, mất trật tự trong không gian lớp học. Cơ sở thực tiễn của đề tài. Thực trạng dạy học Lịch sử ở các trường THPT hiện nay.
Nhiều giáo viên Lịch sử ở trường THPT có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo bài bản, có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy. Họ luôn nỗ lực đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng các phương tiện và công nghệ dạy học hiện đại để thu hút học sinh và giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả. Trong quá trình dạy học, giáo viên Lịch sử đã có nhiều sáng kiến hay trong giảng dạy như: sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực, tổ chức các hoạt động học tập phong phú, đa dạng, sử dụng các phương tiện và công nghệ dạy học hiện 7 đại,. Nhờ những sáng kiến này, học sinh được học tập một cách hứng thú, say mê và tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn.
Bên cạnh việc truyền đạt kiến thức, nhiều giáo viên Lịch sử còn quan tâm đến việc giáo dục đạo đức, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Qua các bài học Lịch sử, học sinh được giáo dục về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm, .; được rèn luyện các kỹ năng như: kỹ năng tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp,. Tuy nhiên, hạn chế dạy học Lịch sử hiện nay của giáo viên là phương pháp giảng dạy còn truyền thống, chưa đổi mới như là giảng giải, học sinh ghi chép. Phương pháp giảng dạy này khiến học sinh cảm thấy nhàm chán, thụ động và không tiếp thu kiến thức hiệu quả.
Việc sử dụng các phương tiện và công nghệ dạy học trong dạy học Lịch sử còn hạn chế. Điều này khiến cho các bài học Lịch sử trở nên khô khan, thiếu hấp dẫn và không thu hút được học sinh. Vì vậy cần đổi mới phương pháp giảng dạy Lịch sử, hướng đến việc lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.