chương I; điều 2,5,6 chương II; điều 8 chương III). - Ngày 24/03/1994, Chỉ thị 36-CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam về công tác TDTT trong giai đoạn mới, đã khẳng định: “Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội”. Để thực hiện được điều này thì: "Ban cán sự Đảng Bộ GD&ĐT phối hợp Ban cán sự Đảng Tổng cục TDTT chỉ đạo tổng kết công tác GDTC, cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các cấp, tạo điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất (CSVC) để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học”. 5 - Ngày 07/03/1995 Thủ tướng chính phủ ra chỉ thị số 133/TTG về việc xây dựng quy hoạch phát triển ngành TDTT về GDTC trường học đã ghi rõ: ".
Bộ GD&ĐT cần đặc biệt coi trọng việc GDTC trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khóa, ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh các cấp học, có quy chế bắt buộc đối với các trường." Gần đây, Bộ GD&ĐT - Ủy ban TDTT thống nhất ban hành Thông tư liên tịch số 34/2005/TTLT - BGD&ĐT - UBTDTT ngày 29/12/2005 hướng dẫn phối hợp quản lý và chỉ đạo công tác TDTT trường học giai đoạn 2006 - 2010, xác định: "Thể thao trường học là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh, góp phần đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Phát triền TDTT trường học theo hướng đổi mới và nâng cao chất lượng giờ học thể dục nội khóa, đa dạng hóa các hình thức hoạt động ngoại khóa, đồng thời tổ chức chặt chẽ việc kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đối với người học. Ngày 18 tháng 09 năm 2008, Bộ GD&ĐT ban hành quyết định số 53/2008/QĐ-BGD&ĐT về việc ban hành quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực sinh viên. Đây là cơ sở để các trường tiến hành nghiên cứu đánh giá thực trạng thể chất của học sinh trường mình.
Nhìn chung, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về GDTC và Thể thao của nước ta hiện nay tương đối đầy đủ và có tính pháp lý cao, phù hợp với điều kiện cụ thể của nền kinh tế xã hội nước ta hiện nay. Đồng thời mang tính định hướng XHCN, vì sự phát triền nhân cách của thế hệ trẻ chủ nhân tương lại của đất nước, đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Giờ học GDTC là tên gọi của giờ học chính khóa, là hình thức lên lớp bắt buộc, là hình thức cơ bản, là lộ trình chủ yếu để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy và học TDTT trường học. Có 2 loại giờ học GDTC, đó là giờ học lý thuyết và giờ học thực hành.
Giờ học lý thuyết trang bị kiến thức về TDTT và vệ sinh sức khỏe cho học sinh, giờ học thực hành là giờ học đặc trưng của dạy học TDTT, được tiến hành trong nhà hoặc ngoài trời hoàn thành nhiệm vụ truyền đạt kiến thức, kỹ thuật, kỹ năng cơ bản của TDTT, nâng cao trình độ sức khỏe, tăng cường thể chất, giáo dục tư tưởng và bồi dưỡng phẩm chất ý chí cho học sinh. TDTT ngoại khóa là TDTT tự nguyện có tổ chức và không có tổ chức được tiến hành ngoài giờ học chính khóa của học sinh. Trong quá trình GDTC, để nâng cao trạng thái thể lực cho học sinh đến mức độ đảm bảo một sức khỏe ổn định cần phải sử dụng một cách đa dạng các phương tiện TDTT. Khi thiết lập chương trình học tập, rèn luyện thể chất trong các trường, phải tính toán đến thay đổi sinh lý theo giới tính, lứa tuổi, sức khỏe.
Chính điều đó đã quyết định tính chất đặc thù của chương trình tập luyện và cũng từ đó lựa chọn các bài tập phù hợp với đối tượng học sinh.Ianson viết trong tạp chí: Lý luận và thực hành TDTTsố 10/2004, thì để đánh giá chất lượng GDTC trước hết thông qua xem xét mục đích, nhiệm vụ của GDTC làm cơ sở xác định các tiêu chí đánh giá, trong đó: Mục đích của GDTC: 1. Tăng cường và nâng cao sức khỏe, góp phần nâng cao chất lượng dân số. Đào tạo, giáo dục học sinh, học sinh (thế hệ trẻ) phát triển một cách toàn diện: thể lực, trí lực, tâm lý, mỹ học, đạo đức… 3. Hình thành thời gian biểu vận động chung (chế độ vận động) cho mỗi học sinh, mỗi lớp, mỗi lứa tuổi (không ít hơn 2 giờ thời gian trong ngày dành cho giờ học GDTC).
Mỗi học sinh tự định hướng cho mình nội dung, hình thức cụ thể nào đó trong chương trình chung của GDTC học đường. Hình thành, hoàn thiện quan niệm đúng đắn, khoa học về TDTT. Nhiệm vụ của GDTC: 1. Trang bị cho các em kỹ năng phân tích, kỹ năng phản xạ, khả năng xây dựng, kiểm tra và thực hành kế hoạch tập luyện.
Xác định mục đích, nhiệm vụ, trang thiết bị cho hoạt động GDTC ở từng cấp học (tiểu học, trung học, đại học); tổ chức hoạt động GDTC theo hướng ưu tiên hoặc học sinh tự chọn môn học thể thao yêu thích để rèn luyện. Trang bị cho học sinh kiến thức cơ bản về giải phẩu cơ thể người; sự thay đổi và thích ứng của cơ thể ở trạng thái hoạt động vận động tích cực. Hoàn thiện, phát triển khả năng vận động cho học sinh (tố chất thể lực, tố chất mềm dẻo, tố chất thăng bằng…) 5. Hình thành tri thức cần thiết, tối thiểu ở học sinh về vệ sinh sức khỏe, của lối sống lành mạnh, tích cực.
Hình thành, phát triển văn hóa thể chất, một trong những nền tảng văn hóa hiện đại. Từ đó tác giả cho rằng, đánh giá chất lượng GDTC được xác định bởi tính hiệu quả, tính chuyên nghiệp của bản thân đội ngũ giáo viên bộ môn GDTC. Cụ thể hơn, chất lượng GDTC được thể hiện thông qua các tiêu chí đánh giá khách quan và chủ quan sau đây: *Tiêu chí đánh giá khách quan: 1. Sức khỏe của học sinh (dựa trên kết quả kiểm tra y học); 2.
Trình độ phát triển thể hình học sinh (dựa trên kết quả kiểm tra hình thái); 3. Phát triển tố chất thể lực (Bằng kết quả Test: chạy tốc độ, chạy con thoi…); 4. Mức độ phát triển khả năng vận động; 7 5. Khả năng vận động trong những điều kiện thay đổi khác nhau (chạy vượt chướng ngại vật, chạy con thoi, chạy vòng vèo…).
*Tiêu chí đánh giá chủ quan (những chỉ số cá nhân): 1. Trình độ, bằng cấp của giáo viên bộ môn GDTC; 2. Ý thức, tinh thần, thái độ của giáo viên đối với nhiệm vụ và trách nhiệm của bản thân; 3. Ý thức, tinh thần, thái độ của phụ huynh học sinh đối với giờ GDTC; 4.
Ý thức, tinh thần, thái độ của học sinh đối với giờ GDTC; 5. Môi trường, không khí lớp học giờ GDTC (mối quan hệ giữa các học sinh với nhau trong giờ học). Từ khái niệm về chất lượng GDTC và việc phân tích các quan điểm xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng GDTC của các tác giả trong và ngoài nước, tuy cách nhìn nhận có khác nhau, nhưng về cơ bản có sự thống nhất chủ yếu thông qua các tiêu chí khách quan tập trung vào đánh giá mức độ phát triển thể chất gồm: - Sự phát triển thể hình (dựa trên kết quả kiểm tra hình thái); - Trình độ hoạt động thể lực (Thể hiện qua công năng hoạt động trao đổi chất và hiệu năng của các cơ quan hệ thống trong cơ thể). - Trình độ phát triển thể lực của học sinh (Thể hiện qua sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẽo, khéo léo và khả năng phối hợp vận động, cùng các năng lực hoạt động vận động về chạy, nhảy, leo trèo, ném…).
- Khả năng vận động trong những điều kiện thay đổi khác nhau (chạy vượt chướng ngại vật, chạy con thoi, chạy vòng vèo…). Đồng thời giữa các tác giả cũng có sự đồng thuận một số các tiêu chí chủ quan trong đánh giá chất lượng thông qua môi trường học tập (tập luyện), nhận thức của học sinh, phụ huynh, giáo viên thể dục…, đội ngũ giáo viên v. xuất phát từ khái niệm chất lượng GDTC là sự phù hợp mục tiêu của các hoạt động GDTC, theo nhu cầu của người dạy và người học thì các điều kiện đảm bảo như: tổ chức bộ máy điều hành các hoạt động GDTC nội và ngoại khóa, sân bãi dụng cụ tập luyện, đội ngũ giáo viên, nội dung chương trình, phương tiện và phương pháp tập luyện, kinh phí đầu tư dành cho hoạt động GDTC và cả kết quả học tập của học sinh, đều phải được xem xét khi đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động GDTC tại các trường THPT và là cơ sở để đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy GDTC. Đặc điểm phát triển tâm lý và thể lực của học sinh THPT.
Đặc điểm phát triển tâm lý của học sinh THPT. Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi bắt đầu của sự trưởng thành. Trong thời kỳ này sự phát triển trí tuệ được đặc trưng bởi sự nâng cao năng lực trí tuệ, biểu hiện rõ nhất trong việc tư duy sâu sắc và rộng mở, có năng lực giải quyết những nhiệm 8 vụ trí tuệ ngày một khó khăn hơn, cũng như có tiến bộ rõ rệt trong lập luận logic, trong việc lĩnh hội tri thức, trí tưởng tượng sự chú ý và ghi nhớ. Ở lúc tuổi này đã phát triển khả năng hình thành ý tưởng trừu tượng, khả năng phán đoán, nhu cầu hiểu biết và học tập.
- Tri giác: Tri giác của các em có độ nhạy cảm cao, tri giác có mục đích đạt tới mức độ rất cao. Quan sát trở nên có hệ thộng và toàn diện hơn. Quá trình quan sát đã chịu sự chi phối của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách rời khỏi tư duy ngôn ngữ. Các em có thể điểu khiển được hoạt động của mình theo kế hoạch chung và chú ý đến mọi khâu.
Tuy nhiên tri giác của học sinh THPT cần có sự hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên cần hướng dẫn các em quan sát vào một nhiệm vụ nhất định và yêu cầu các em không nên kết luận vội vàng khi chưa tích lũy đầy đủ các sự kiện cần quan sát.