mở đầu, giáo viên có thể sử dụng phương pháp trò chơi để tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi “Nhìn tranh đoán loại hình nghệ thuật”. Học sinh tham gia nhìn tranh và đoán tên một số loại hình nghệ thuật như: Điêu khắc gỗ, đúc đồng, chế tác tranh Đông Hồ, làm gốm sứ… từ đó giáo viên tạo tình huống dẫn dắt vào bài học. Khi dạy văn bản “Sự sống và cái chết”, ở hoạt động mở đầu, giáo viên có thể sử dụng phương pháp trực quan khoa học bằng việc cho học sinh xem video sự hình thành và phát triển sự sống trên Trái đất. Từ đó giáo viên đặt câu hỏi: Video đề cập đến nội dung gì? Chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ của em sau khi xem video.
Từ đó, giáo viên tạo tình huống dẫn dắt vào bài. Khi dạy văn bản “Nghệ thuật truyền thống của người Việt”, ở hoạt động mở đầu, giáo viên có thể sử dụng phương pháp dự án với dự án: Làm video giới thiệu về nghệ thuật truyền thống của người Việt, qua đó bày tỏ suy nghĩ của em về các giá trị truyền thống này. Từ sản phẩm báo cáo dự án của học sinh, giáo viên tạo tình huống dẫn dắt vào bài. Khi dạy văn bản “Nghệ thuật truyền thống của người Việt”, ở hoạt động hình thành kiến thức, giáo viên có thể sử dụng kỹ thuật Think - Pair - Share để học sinh thảo luận, chia sẻ ý kiến nhằm xác định mục đích viết của văn bản bằng cách xác định bối cảnh, câu văn, đoạn văn thể hiện thái độ của tác giả khi giới thiệu về truyền thống của người Việt.
Từ đó xác định mục đích viết của văn bản. Khi dạy văn bản “Sự sống và cái chết”, ở hoạt động hình thành kiến thức, với phần các yếu tố miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận trong văn bản và quan điểm của người viết, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động nhóm theo kỹ thuật công đoạn để hoàn thành phiếu học tập sau. Vòng 1 các nhóm làm việc độc lập. Vòng 2 các nhóm trao đổi chéo sản phẩm để nhận xét, đánh giá chéo sản phẩm nhóm bạn.
Kết quả - Khi giáo viên biết cách tối ưu hóa vai trò của mỗi cá nhân trong quá trình khám phá văn bản thông tin. Học sinh rất hăng hái tham gia các hoạt động, nhiệm vụ học tập. Tăng cường sự kết nối giữa người dạy với người học, người học với người học. Trong mỗi tiết học, bài học, tỷ lệ giơ tay phát biểu xây dựng bài khoảng 40%.
Các em mạnh dạn tự tin chia sẻ ý kiến, đặt câu hỏi chất vấn, tranh biện để khám phá văn bản. - Giáo viên đã vận dụng linh hoạt, phong phú một số phương pháp dạy học tích cực trong quá trình khai thác các văn bản thông tin như: phương pháp trò chơi, kỹ thuật khăn trải bàn, phương pháp đặt và giải quyết vấn đề sáng tạo, phương pháp trực quan, kỹ thuật Think - Pair - Share; phương pháp liên hệ thực tế, phương pháp dự án, kỹ thuật đặt câu hỏi, kỹ thuật Chia nhóm. Các tiết học, bài học sôi nổi hấp dẫn, Thu hút 100% học sinh tham gia. Dạy học các văn bản thông tin bằng cách kết nối không gian trong và ngoài lớp học, ứng dụng chuyển đổi số trong dạy học 4.
Cách thức thực hiện 4. Dạy học các văn bản thông tin bằng cách kết nối không gian trong và ngoài lớp học Quá trình sản xuất học sinh được thực hiện trong không gian trên lớp học và với không gian ngoài lớp học. Vì vậy, việc kết nối không gian trong và ngoài lớp học có vai trò vô cùng quan trọng. 17 Với không gian trong lớp học, giáo viên có thể thực hiện hoạt động kết nối giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên thông qua các nhiệm vụ học tập.
Thậm chí, giáo viên có thể sử dụng cách kết nối trực tuyến ngay trong không gian lớp học để thực hiện hoạt động tìm kiếm thông tin, kiểm tra đánh giá hoạt động học của học sinh. Giáo viên có thể sử dụng các ứng dụng như pallet, Zalo, Facebook để kết nối không gian trong lớp học. Học sinh có thể sử dụng điện thoại thông minh, máy tính để thực hiện nhiệm vụ kết nối này. Với không gian ngoài lớp học, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ bằng cách kết nối internet, kết nối với các trang mạng xã hội để tìm kiếm thông tin, để tham gia vào các hội nhóm, thực hiện hoạt động trao đổi chia sẻ thông tin.
Việc trao đổi chia sẻ thông tin trên các hội nhóm yêu thích Văn học khá quan trọng, Các em có thể được nhận xét đánh giá, học hỏi tri thức của hàng triệu thành viên trên khắp mọi miền tổ quốc. Hệ thống tri thức được hình thành trong quá trình tìm kiếm thông tin này được ghi nhớ và khắc sâu lâu hơn. Ứng dụng chuyển đổi số trong dạy học Khoa học công nghệ ngày càng phát triển đòi hỏi giáo dục cũng phải bắt nhịp với xu thế phát triển của thời đại. Việc ứng dụng chuyển đổi số vào trong quá trình dạy học đã được chỉ đạo rất cụ thể và rõ ràng.
Tuy nhiên, Một Câu hỏi đặt ra là: ứng dụng chuyển đổi số có cần phù hợp với đối tượng học sinh, phù hợp với hệ thống cơ sở vật chất trường học, phù hợp với bài học, đơn vị kiến thức bài học, phù hợp với thời gian hay không? Chắc chắn, nguyên tắc đầu tiên của việc ứng dụng chuyển đổi số đó là cần phải bám sát và trả lời các câu hỏi trên. Ứng dụng chuyển đổi số trong quá trình dạy học được thực hiện với hai đối tượng đó là: - Với giáo viên. Giáo viên có thể ứng dụng chuyển đổi số để thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau đây: + Ứng dụng chuyển đổi số trong quá trình tìm kiếm thông tin, dữ liệu phục vụ bài học. Giáo viên có thể tìm kiếm thông tin trên các trang mạng internet, trong kho dữ liệu môn học của Bộ Giáo dục, Tìm kiếm thông tin bằng cách tham gia các hội nhóm, kết nối với các giáo viên trong cả nước để cùng trao đổi học hỏi.
+ Ứng dụng chuyển đổi số trong việc thiết kế bài học, tổ chức các hoạt động học cho học sinh. (Thiết kế trò chơi, video, các nhiệm vụ học tập) + Ứng dụng chuyển đổi số trong việc kết nối, trao đổi thông tin với phụ huynh học sinh, với học sinh để giao nhiệm vụ học tập, phản ánh kết quả học tập với phụ huynh. + Ứng dụng chuyển đổi số trong quá trình kiểm tra đánh giá học sinh. Giáo viên có thể sử dụng một số phần mềm như Azota, Zoom, Meet để trao đổi chia sẻ với học sinh các thông tin, hoặc thực hiện hoạt động kiểm tra đánh giá học sinh, hoặc là nơi học sinh có thể nộp sản phẩm.
- Với học sinh, giáo viên có thể hướng dẫn các em ứng dụng chuyển đổi số trong quá trình học tập như sau: 18 + Khai thác và tìm kiếm các thông tin, dữ liệu trên các trang mạng, kết nối các thành viên trong và ngoài lớp học. Tham gia học tập trực tuyến trên YouTube hoặc các lớp học trực tuyến do các giáo viên trong cả nước xây dựng và tổ chức. + Ứng dụng chuyển đổi số để thiết kế các sản phẩm học tập, trao đổi và đánh giá sản phẩm học tập. Ví dụ minh họa Ví dụ 1.
Khi dạy văn bản “Phục hồi tầng Ozon, thành công hiếm hoi của nỗ lực toàn cầu”, ở hoạt động mở đầu, giáo viên có thể sử dụng phương pháp trò chơi với trò chơi “Tập làm phóng viên”. Giáo viên cử 1 học sinh làm phóng viên và đi phỏng vấn các thành viên trong lớp với câu hỏi: (Với trò chơi này, giáo viên đã kết nối các thành viên trong lớp học, các em được trao đổi, chia sẻ ý kiến cá nhân về một trong những vấn đề quan tâm của xã hội). Khi dạy văn bản “Nghệ thuật truyền thống của người Việt”, ở hoạt động mở đầu, giáo viên có thể ứng dụng công nghệ 4.0 để thiết kế trò chơi trong hoạt động mở đầu. Giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi “Đuổi hình bắt chữ” để tìm kiếm các làng nghề truyền thống trên dải đất hình chữ S, từ đó tạo tình huống dẫn dắt vào bài.
Kết quả Cả giáo viên và học sinh đều hiểu rõ vai trò của việc kết nối không gian trong và ngoài lớp học. Việc kết nối không gian trong và ngoài lớp học được thực hiện linh hoạt, hiệu quả, tạo niềm đam mê hưởng thụ cho học sinh, tạo động lực cho giáo viên trong quá trình tổ chức dạy học. Giáo viên và học sinh đã biết cách ứng dụng chuyển đổi số trong quá trình thiết kế tổ chức dạy học, trong hoạt động làm chủ và chiếm lĩnh tri thức. Các tiết dạy bài dạy đã được ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế hệ thống video, trò chơi, tổ chức các hoạt động dạy học.
Học sinh đã biết ứng dụng chuyển đổi số trong việc tìm kiếm, khai thác các thông tin, trao đổi các thông tin trên mạng internet, thiết kế sản phẩm học tập phong phú và đa dạng. Đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá học sinh khi khám phá các văn thông tin 5. Cách thức thực hiện Trong quá trình tổ chức dạy học văn bản thông tin, giáo viên có thể thực hiện các hoạt động kiểm tra đánh giá phong phú và đa dạng như sau: Thứ nhất: kiểm tra đánh giá sản phẩm hoạt động học của học sinh. Giáo viên có thể kiểm tra đánh giá việc chuẩn bị bài bằng cách: kiểm tra đánh giá chéo giữa các thành viên trong nhóm học, lớp học.
Xây dựng một số tiêu chí kiểm tra đánh giá. Học sinh kiểm tra đánh giá học sinh, giáo viên kiểm tra đánh giá học sinh, phụ huynh học sinh tham gia vào quá trình kiểm tra đánh giá học sinh. Hình thức và công cụ kiểm tra đánh giá có thể thay đổi linh hoạt như: với hình thức kiểm tra đánh giá, có thể kiểm tra đánh giá thường xuyên, kiểm tra đánh giá định kỳ, kiểm tra đánh giá tổng kết. Sử dụng các công cụ kiểm tra đánh giá như: sử dụng điểm số, đánh giá bằng lời nhận xét, sử dụng hệ thống bảng kiểm để tổ chức kiểm tra đánh giá học sinh.
Trong quá trình kiểm tra đánh giá, cần tăng cường sử dụng các phương pháp động viên khích lệ học sinh. Kiểm tra việc nắm bắt hệ thống tri thức phải học của học sinh thông qua hệ thống câu hỏi, thông qua các đề kiểm tra đánh giá.