CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Tổng quan năng lực tự học trong dạy học và giáo dục 1.
Một số văn bản chỉ đạo về việc phát triển năng lực tự học cho học sinh Nghị quyết 29/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Đảng đã chỉ rõ: “… Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”. Về các giải pháp thực hiện Nghị quyết nêu rõ: “Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Điểm mới của chương trình GDPT 2018 là thực hiện phương pháp dạy và học tích cực bao gồm: tích cực hóa hoạt động học tập; chú trọng tổ chức hoạt động học nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học cho học sinh; thực hiện phương châm “Học qua làm”. Văn bản số 4612/BGDĐT-GDTrH ngày 03/10/2017 của Bộ GDĐT về việc hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm học 2017 - 2018 về phương pháp, hình thức dạy học cũng đã chỉ rõ: “Chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu sách giáo khoa để tiếp nhận và vận dụng kiến thức mới thông qua giải quyết nhiệm vụ học tập đặt ra trong bài học”.
Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ GDĐT Ban hành Chương trình GDPT (có hiệu lực từ 15/02/2019) nêu rõ: “Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học…” 1. Khái niệm về năng lực, năng lực tự học Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “NLTH được hiểu là một thuộc tính kĩ năng rất phức hợp. Nó bao gồm kĩ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra”. NLTH là sự bao hàm cả cách học, kỹ năng học và nội dung học: “NLTH là sự tích hợp tổng thể cách học và kĩ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống - vấn đề khác nhau”.
NLTH là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao. Biểu hiện năng lực tự học Năng lực tự học là một khái niệm trừu tượng và bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố. Trong nghiên cứu khoa học, để xác định được sự thay đổi các yếu tố của năng lực tự học sau một quá trình học tập, các nhà nghiên cứu đã tập trung mô phỏng, xác định những dấu hiệu của năng lực tự học được bộc lộ ra ngoài. Điều này đã được thể hiện trong một số nghiên cứu dưới đây: Candy đã liệt kê 12 biểu hiện của người có NLTH.
Ông chia thành 2 nhóm để xác định nhóm yếu tố nào sẽ chịu tác động mạnh từ môi trường học tập. 4 Năng lực tự học Tính cách Phương pháp học 1. Tính kỷ luật 1. Có kỹ năng tìm kiểm thông tin 2.
Có tư duy phân tích 2. Có kiến thức để thực hiện hoạt 3. Có khả năng tư điều chỉnh động học tập 4. Ham hiểu biết 3.
Có năng lực đánh giá, kỹ năng 5. xử lý thông tin và giải quyết vấn 6. Có năng lực giao tiếp xã hội đề. Mạo hiểm, sáng tạo 8.
Tự tin, tích cực 9. Có năng lực tự học Sơ đồ 1.1: Biểu hiện của năng lực tự học Tác giả Taylor khi nghiên cứu, năng lực tự học có những biểu hiện cụ thể: Người có năng lực tự học Thái độ Tính cách Kĩ năng 1. Chịu trách nhiệm với 1. Có động cơ học tập 1.Có kĩ năng thực hiện công việc học tập của 2.
Chủ động thể hiện kết hoạt động học tập bản thân quả học tập 2. Có kỹ năng quản lý 2. Dám đối mặt với 3. Độc lập thời gian học tập những thách thức.
Có tính kỉ luật 3. Mong muốn được thay 5. Tự tin đổi. Hoạt động có mục 4.
Mong muốn được học đích 7. Thích học 8.2: Biểu hiện của người có năng lực tự 1. Vai trò của hoạt động tự học học NLTH có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học cũng như trong đời sống thực tiễn của người học. Tự học giúp nâng cao kiến thức và hiệu quả học tập.
Trong quá trình tự học, HS cần vận dụng các năng lực trí tuệ để giải quyết vấn đề. Điều này đòi hỏi HS phải là chủ thể của quá trình nhận thức, biết cách tự tìm tòi, đào sâu suy nghĩ, phê phán,. để hiểu kiến thức sâu sắc hơn. Tự học giúp người học có khả năng tự giải quyết các vấn đề học tập, biết vận dụng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Trong hoạt động tự học, kiến thức mà 5 người học chiếm lĩnh được thông qua các hoạt động tư duy của bản thân. Người học có khả năng tự học có thể thu thập và xử lí thông tin, biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn và tự kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của mình. Giúp hình thành các kĩ năng, phương pháp học tập khoa học. Khi tự học, các thao tác tư duy lặp đi lặp lại nhiều lần, góp phần hình thành cho người học các kĩ năng, phương pháp học tập cho người học.
Do vậy, tự học là cốt lõi của cách học, như Bác Hồ đã từng nói: “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Trong hoạt động học tập, bồi dưỡng NLTH cho HS góp phần nâng cao chất lượng dạy học, tạo cho người học có động lực học tập mạnh mẽ, phát huy khả năng tự học, tự chủ, sáng tạo để chiếm lĩnh kho tàng kiến thức nhân loại. Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học. Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực, phẩm chất và để cống hiến. Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển KT- XH.
Mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng bắt nhịp nhanh trong mọi hoàn cảnh. Như vậy trong việc học tập, vấn đề tự học là cái cốt lõi, giúp người học có thể học tập suốt đời, học ở những môi trường và điều kiện khác nhau, ở những lĩnh vực kiến thức khác nhau, có thể tự chiếm lĩnh kiến thức, biến cái của nhân loại thành cái của riêng bản thân mình, tự học là để tự mình khẳng định mình, là con đường dẫn đến thành công của người học. Các hình thức tự học Dựa vào những dấu hiệu khác nhau người ta đã có nhiều cách phân loại các hình thức tự học khác nhau, trên thực tế thường có các hình thức tự học sau: * Dựa vào sự chỉ đạo của người dạy đối với người học - Tự học diễn ra dưới sự hướng dẫn, điều khiển trực tiếp của người thầy - Tự học có sự hướng dẫn của người thầy nhưng không giáp mặt; - Tự học độc lập không có sự hướng dẫn của thầy. * Dựa vào không gian tiến hành tự học - Tự học trên lớp: HS thu nhận kiến thức thông qua nghe giảng, ghi chép và làm bài tập, đồng thời trao đổi thông tin trực tiếp với GV và bạn trong lớp học.
- Tự học ngoài lớp: Với hình thức này, HS chủ động trong việc tìm kiếm nguồn tri thức, chủ động sắp xếp thời gian học và trao đổi thông tin cần thiết với người dạy thông qua nhiều kênh tương tác. * Dựa vào các phương tiện hỗ trợ tự học - Tự học với sự hỗ trợ của máy tính và các phần mềm; Tự học qua tài liệu. - Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được học qua máy tính, truyền hình… Việc trao đổi thông tin của thầy và trò một cách gián tiếp. - Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong quá trình tự học ở hình thức này, thông qua tài liệu hướng dẫn, người học chủ động, tự giác, huy động mọi trí tuệ để hoàn thành những yêu cầu đã được đưa ra.
6 Qua việc nghiên cứu các hình thức tự học, chúng tôi nhận thấy mỗi hình thức tự học có những ưu nhược điểm nhất định. Để phát huy những ưu điểm của các hình thức tự học này, cần phối hợp các hình thức dạy học lại với nhau một cách linh hoạt để người học có thể tự học một chủ động và phù hợp nhất có thể. Nguyên tắc và chu trình rèn luyện kĩ năng tự học * Nguyên tắc Rèn luyện KNTH được thực hiện theo các nguyên tắc: - Rèn luyện KNTH phải đặt trong quá trình hình thành và phát triển năng lực TH. Chỉ khi người học ý thức được việc học là cho bản thân, từ đó mới tự lực thực hiện hoạt động học một cách tích cực, chủ động.
- Rèn luyện KNTH phải dựa trên quan điểm xây dựng chương trình, đặc điểm nội dung, chuẩn kiến thức, KN chương trình và các điều kiện cụ thể khác. - Rèn luyện KNTH phải chú ý đến từng thành phần như: trình tự thao tác, cách thức thực hiện thao tác, tri thức thực hiện từng thao tác của KNTH. - Rèn luyện KNTH phải nâng dần từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ các KN riêng lẻ đến phối hợp giữa các KN trong quá trình tiến hành các hoạt động học tập. - Rèn luyện KNTH phải đảm bảo GV thu nhận thông tin phản hồi về kết quả học tập của HS sau quá trình TH và giúp đỡ, điều chỉnh nhịp độ học tập của HS khi cần thiết.
* Chu trình Tự nghiên cứu: Tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Hợp tác trao đổi thích, phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết với các bạn và GV, sau khi GV kết luận, vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (mới đối với người học tự kiểm tra, đánh giá sản phẩm ban người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành phẩm thô có tính chất cá nhân. sản phẩm khoa học (tri thức). GĐ1 GĐ 2 GĐ 3 Tự thể hiện: Bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và GV, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học.