MỞ ĐẦU Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN CÁT BIỂN, NƢỚC BIỂN VÀ XÁC ĐỊNH CƢỜNG ĐỘ CHỊU NÉN CỦA BÊ TÔNG Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ CƢỜNG ĐỘ CHỊU NÉN CỦA BÊ TÔNG KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ PHỤ LỤC QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG 1. Định nghĩa và phân loại bê tông 1. Định nghĩa về bê tông Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCXD 191:1996 Bê tông là hỗn hợp đóng rắn, của các vật liệu gồm chất kết dính, cốt liệu lớn, cốt liệu nhỏ và nƣớc. Có thể có hoặc không có phụ gia.
Bê tông xi măng (thƣờng gọi tắt là bê tông) là loại vật liệu đá nhân tạo đƣợc hình thành bằng cách tạo hình và làm rắn chắc hỗn hợp đƣợc lựa chọn hợp lý của xi măng, nƣớc, cốt liệu (cát, sỏi hay đá dăm) và phụ gia. Trong đó, cốt liệu chính là đá và cát, là những thành phần chịu lực chủ yếu của bê tông; còn xi măng, sau khi trộn với nƣớc sẽ dần đông cứng lại và trở thành một chất kết dính hỗn hợp. Trong bê tông, cốt liệu thƣờng chiếm từ 80% - 85% thể tích, còn xi măng chiếm từ 8% - 15% khối lƣợng. Cấu trúc bê tông Bê tông có cấu trúc không đồng nhất vì hình dáng, kích thƣớc cốt liệu khác nhau, sự phân bố của cốt liệu và chất kết dính không thật đồng đều, trong bê tông vẫn còn lại một ít nƣớc thừa và những lỗ rỗng li ti (do nƣớc thừa bốc hơi).
Quá trình khô cứng của bê tông là quá trình thủy hóa của xi măng, quá trình thay đổi lƣợng nƣớc cân bằng, sự giảm keo nhớt, sự tăng mạng tinh thể của đá xi măng. Các quá trình này làm cho bê tông trở thành vật liệu vừa có tính đàn hồi vừa có tính dẻo [1,2]. Phân loại bê tông Có nhiều cách để phân loại bê tông, tùy theo yêu cầu có thể phân loại bê tông theo các loại nhƣ sau: Theo cƣờng độ: Bê tông thƣờng có cƣờng độ nén từ 20 đến 50 (MPa); bê tông chất lƣợng cao và rất cao có cƣờng độ nén từ 50 đến 250 (MPa). Theo loại chất kết dính: Bê tông xi măng, bê tông silicat (chất kết dính là vôi), bê tông thạch cao, bê tông polime, bê tông đặc biệt (dùng chất kết dính đặc biệt).
Theo dạng cốt liệu: Bê tông cốt liệu đặc, bê tông cốt liệu rỗng, bê tông cốt liệu đặc biệt (chống phóng xạ, chịu nhiệt, chịu a xít), bê tông cốt kim loại,. Theo khối lƣợng thể tích: Bê tông đặc biệt nặng (ρv > 2500 kg/m3), chế tạo từ cốt liệu đặc biệt, dùng cho những kết cấu đặc biệt; bê tông nặng (ρv = 2250 ÷ 2500 kg/m3), chế tạo từ cát, đá, sỏi thông thƣờng, dùng cho kết cấu chịu lực; bê tông tƣơng đối nặng (ρv = 1800 ÷ 2250 kg/m3), dùng chủ yếu cho kết cấu chịu lực; bê tông nhẹ (ρv = 500 ÷ 1800 kg/m3), gồm bê tông tổ ong (bê tông khí và bê tông bọt), bê tông cốt liệu 5 rỗng (nhân tạo hay thiên nhiên) và bê tông hốc lớn (không có cốt liệu nhỏ); bê tông đặc biệt nhẹ, là dạng bê tông nhẹ, nhƣng có ρv < 500 kg/m3 [1,2]. Các vật liệu cấu thành bê tông 1. Chất kết dính Theo TCXD 191:1996 Chất kết dính là vật liệu có khả năng ninh kết và đóng rắn nhờ phản ứng tƣơng tác hóa lý với nƣớc, và gắn kết các cốt liệu tạo thành bê tông.
Có chất kết dính thủy lực nhƣ các loại xi măng, chất kết dính không khí nhƣ vôi, chất kết dính hữu cơ nhƣ atphan, cao su epoxy,… Xi măng là thành phần chất kết dính để liên kết các hạt cốt liệu với nhau tạo ra cƣờng độ cho bê tông. Chất lƣợng và hàm lƣợng xi măng là yếu tố quan trọng quyết định cƣờng độ cho bê tông. Hiện nay, có rất nhiều loại xi măng để sản xuất bê tông nhƣ xi măng pooc lăng, xi măng pooc lăng bền sunfat, xi măng pooc lăng xỉ, xi măng pooc lăng puzolan,. Yêu cầu kỹ thuật của xi măng đƣợc quy định theo TCVN 2682 : 2009.
Cốt liệu Theo TCVN 7570:2006 Cốt liệu là các vật liệu rời nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo có thành phần hạt xác định, khi nhào trộn với xi măng và nƣớc, tạo thành bê tông. Theo kích thƣớc hạt, cốt liệu đƣợc phân ra cốt liệu nhỏ và cốt liệu lớn. Cốt liệu nhỏ Cốt liệu nhỏ là hỗn hợp các hạt cốt liệu kích thƣớc chủ yếu từ 0,14 mm đến 5 mm. Cốt liệu nhỏ có thể là cát tự nhiên (cát sông, cát suối, cát đồi), nhân tạo (cát xỉ, cát Keramzir), cát nghiền và hỗn hợp từ cát tự nhiên và cát nghiền.
Cát tự nhiên là hỗn hợp các hạt cốt liệu nhỏ đƣợc hình thành do quá trình phong hóa của các đá tự nhiên. Cát nghiền là hỗn hợp là hỗn hợp các hạt cốt liệu kích thƣớc nhỏ hơn 5 mm thu đƣợc do đập hoặc nghiền từ đá. Yêu cầu kỹ thuật cát dùng trong bê tông đƣợc quy định theo TCVN 7570: 2006. Cốt liệu lớn Cốt liệu lớn là hỗn hợp các loại cốt liệu có kích thƣớc từ 5 mm đến 70 mm.
Cốt liệu lớn có thể là đá dăm, sỏi, sỏi dăm (đập hoặc nghiền từ sỏi) và hỗn hợp từ đá dăm và sỏi hay sỏi dăm. Đá dăm đƣợc sản xuất bằng cách đập và nghiền đá, hoặc nghiền từ đá nhƣ đá vôi, đá granit… Sỏi đƣợc hình thành do quá trình phong hóa của đá tự nhiên hoặc đá kết theo các dòng chảy, sỏi dăm đƣợc sản xuất bằng cách đập và nghiền cuội, sỏi kích thƣớc lớn. Thành phần chế tạo bê tông [7] 1. Nước Nƣớc là thành phần giúp cho xi măng phản ứng tạo ra các sản phẩm thủy hóa làm cho cƣờng độ của bê tông tăng lên.
Nƣớc còn tạo ra độ lƣu động cần thiết để quá trình thi công đƣợc dễ dàng. Nƣớc biển có thể dùng để chế tạo bê tông cho những kết cấu làm việc trong nƣớc biển, nếu tổng các loại muối không vƣợt quá 35g trong 1 lít nƣớc biển. Chất phụ gia Trong công nghệ chế tạo bê tông hiện nay, phụ gia đƣợc sử dụng khá phổ biến. Phụ gia thƣờng sử dụng có 2 loại, loại rắn nhanh và loại hoạt động bề mặt.
Phụ gia rắn nhanh thƣờng là các loại muối gốc clo (ví dụ CaCl2, NaCl, FeCl3), hoặc là hỗn hợp của chúng. Do làm tăng nhanh quá trình thủy hóa mà phụ gia rắn nhanh có khả năng rút ngắn quá trình rắn chắc của bê tông trong điều kiện tự nhiên, cũng nhƣ nâng cao cƣờng độ bê tông sau khi bảo dƣỡng nhiệt và ở tuổi 28 ngày. Phụ gia hoạt động bề mặt, mặc dù chỉ sử dụng một lƣợng nhỏ, nhƣng có khả năng cải thiện đáng kể tính dẻo của hỗn hợp bê tông và tăng cƣờng nhiều tính chất khác của bê tông nhƣ tăng cƣờng độ chịu lực, tăng khả năng chống thấm. Trong đa số các trƣờng hợp, phụ gia dẻo và siêu dẻo là polime tổng hợp, các dẫn xuất của nhựa melamin hoặc của axit naftalin sunforic và các loại khác.
Mác bê tông và cấp độ bền của bê tông 1. Mác bê tông theo cường độ chịu nén Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5574–2012, Mác bê tông hay mác theo cƣờng độ chịu nén, kí hiệu bằng chữ M, lấy bằng cƣờng độ chịu nén (cƣờng độ trung bình), tính theo đơn vị kg/cm2 của mẫu thử chuẩn khối lập phƣơng vuông, có cạnh bằng 150mm, đƣợc dƣỡng hộ và thí nghiệm ở tuổi 28 ngày, theo điều kiện chuẩn ở nhiệt độ 27 + 2oC, độ ẩm không nhỏ hơn 95%. 7 Theo TCVN 5574–2012 có các mác bê tông M50; M75; M100; M150; M200; M250; M300; M350; M400; M450; M500; M600,… 1. Mác bê tông theo cường độ chịu kéo Ký hiệu bằng K, đƣợc xác định bằng cách lấy bằng cƣờng độ chịu kéo trung bình Rm của mẫu thử chuẩn, tính theo đơn vị (kg/cm2).
Theo TCVN 5574–2012 có các mác bê tông: K10, K15, K20, K25, K30, K40 đối với bê tông nặng; và mác K10, K15, K20, K25, K30 đối với bê tông nhẹ. Cấp độ bền chịu nén Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5574–2012, khái niệm cấp độ bền chịu nén của bê tông, ký hiệu bằng chữ B, là giá trị trung bình thống kê của cƣờng độ chịu nén tức thời, tính bằng đơn vị Mpa, với xác suất đảm bảo không dƣới 95%, xác định trên các mẫu lập phƣơng kích thƣớc tiêu chuẩn (150x150x150) mm đƣợc chế tạo, dƣỡng hộ trong điều kiện tiêu chuẩn và thí nghiệm ở tuổi 28 ngày. Theo tiêu chuẩn TCVN 5574–2012, bê tông có các cấp độ bền B3. Tương quan giữa M và B: Tƣơng quan giữa mác M và cấp độ bền B của cùng một loại bê tông đƣợc thể hiện qua công thức: (1.1) Trong đó: - : Hệ số đổi đơn vị từ kg/cm2 sang (MPa; N/mm2), lấy = 0,1 - : Hệ số chuyển đổi từ cƣờng độ trung bình sang cƣờng độ đặc trƣng, với xác suất đảm bảo 95%; = (1- Sv)= 0,778.
Bảng quy đổi mác bê tông (M) tƣơng ứng với cấp độ bền (B) đến M300 (B22,5) theo TCVN 5574:2012 thể hiện ở Bảng 1. Bảng quy đổi mác bê tông (M) tƣơng ứng với cấp độ bền (B) Cấp độ bền (B) Cƣờng độ chịu nén (Mpa) Mác bê tông (M) B3. Nguyên lý hình thành bê tông thông qua phản ứng thủy hóa của xi măng 1. Quá trình rắn chắc của xi măng: Khi xi măng rắn chắc, các quá trình vật lý và hoá lý phức tạp đi kèm theo các phản ứng hoá học, tạo ra sự biến đổi tổng hợp, khiến cho xi măng khi nhào trộn với nƣớc, lúc đầu chỉ là hồ dẻo và sau biến thành đá cứng có cƣờng độ.
Các quá trình tác dụng tƣơng hỗ của từng khoáng với nƣớc để tạo ra những sản phẩm mới xảy ra đồng thời, xen kẽ và ảnh hƣởng lẫn nhau. Các sản phẩm mới cũng có thể tác dụng tƣơng hỗ với nhau và với các khoáng khác của clinke để hình thành những liên kết mới. Do đó, hồ xi măng là một hệ rất phức tạp cả về cấu trúc, thành phần cũng nhƣ sự biến đổi. Để giải thích quá trình rắn chắc ngƣời ta thƣờng dùng thuyết của Baikov–Rebinder.
Theo thuyết này, quá trình rắn chắc của xi măng đƣợc chia làm 3 giai đoạn: 1. Giai đoạn hòa tan Khi nhào trộn xi măng với nƣớc các thành phần khoáng của clinke sẽ tác dụng với nƣớc ngay trên bề mặt hạt xi măng. Những sản phẩm mới tan đƣợc [Ca(OH) 2; CaO.6H2O] sẽ tan ra. Nhƣng vì độ tan của nó không lớn và lƣợng nƣớc có hạn nên dung dịch nhanh chóng trở nên quá bão hoà [2,3].