Tổng quan nghiên cứu

Trong ngành công nghiệp xây dựng hiện đại, bê tông chiếm tỷ trọng vượt trội với hơn 60% tổng khối lượng các loại kết cấu công trình. Tuy nhiên, việc khai thác cát sông và sử dụng nguồn nước ngọt truyền thống đang đối mặt với nguy cơ cạn kiệt tài nguyên nghiêm trọng, gây xói lở bờ sông và suy thoái môi trường sinh thái. Tại tỉnh Khánh Hòa, địa phương sở hữu 385 km bờ biển cùng hơn 250 đảo và quần đảo, áp lực hạ tầng đang gia tăng nhanh chóng theo Chương trình phát triển đô thị với mục tiêu tỷ lệ đô thị hóa đạt 60% vào năm 2020 và 70% vào năm 2030, đòi hỏi tổng nguồn vốn đầu tư ước tính khoảng 63 nghìn tỷ đồng. Theo quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng của tỉnh, nhu cầu cát xây dựng hàng năm dao động từ 1,6 đến 1,9 triệu m3, trong khi tổng công suất khai thác cấp phép chỉ đạt khoảng 1,45 triệu m3/năm, dẫn đến tình trạng thiếu hụt cục bộ từ 150.000 đến 450.000 m3/năm.

Đặc biệt tại các khu vực hải đảo và dải ven biển, chi phí vận chuyển cát vàng và nước ngọt từ đất liền thường làm tăng tổng mức đầu tư xây dựng lên từ 2 đến 3 lần so với công trình thông thường. Xuất phát từ thực tiễn trên, luận văn thạc sĩ kỹ thuật của học viên Trần Văn Châu dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư Trương Hoài Chính tại Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng đã tập trung nghiên cứu sản xuất bê tông từ nguồn cát biển và nước biển sẵn có tại khu vực thành phố Nha Trang. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là đánh giá toàn diện các chỉ tiêu cơ lý của vật liệu địa phương, thiết kế cấp phối tối ưu cho bê tông không cốt thép đạt cấp độ bền B15 (M200) và B20 (M250), đồng thời theo dõi quy luật phát triển cường độ chịu nén thực tế qua các mốc thời gian đến 90 ngày. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa kinh tế và môi trường to lớn, giúp giảm 15% đến 25% giá thành xây dựng các công trình phòng hộ ven biển, kè chắn sóng, đường giao thông nông thôn và cấu kiện đúc sẵn tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết thủy hóa và đóng rắn chất kết dính vô cơ của Baikov – Rebinder, phân tích quá trình chuyển hóa vật lý - hóa lý của hồ xi măng qua 3 giai đoạn then chốt: hòa tan khoáng clinke, hóa keo ngưng tụ và kết tinh tạo khung đá xi măng chịu lực. Động học phát triển cường độ bê tông theo thời gian được đối chiếu qua mô hình hàm logarit thực nghiệm của B. Skramtaev và tiêu chuẩn của Viện Bê tông Hoa Kỳ (ACI) nhằm dự báo sự gia tăng cường độ từ 3 đến 90 ngày tuổi.

Về mặt hóa lý môi trường xâm thực, nghiên cứu kế thừa các luận điểm của các nhà khoa học trong và ngoài nước về cơ chế ăn mòn ion clo (Cl-) và ion sunfat (SO42-). Sự hiện diện của muối khoáng trong nước biển làm thay đổi cấu trúc vi mô do phản ứng tạo khoáng ettringite gây trương nở thể tích lên tới 227% hoặc quá trình rửa trôi canxi hydroxit Ca(OH)2. Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật cốt lõi được áp dụng xuyên suốt đề tài bao gồm TCVN 5574:2012 về thiết kế kết cấu bê tông, TCVN 7570:2006 và TCVN 7572:2006 quy định yêu cầu kỹ thuật cùng phương pháp thử cho cốt liệu, TCVN 6260:2009 cho xi măng poóc lăng hỗn hợp PCB40, và TCVN 4506:2012 về nước trộn bê tông.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm kết hợp giải tích đối chứng, sử dụng toàn bộ nguồn vật tư thu thập trực tiếp tại Khánh Hòa: xi măng PCB40 của Công ty Xi măng Hà Tiên 1 (Trạm nghiền Cam Ranh, lô sản xuất ngày 01/9/2017), cát vàng sông Cái (mô đun độ lớn 3,0; hàm lượng bùn bụi sét 1,12%), cát biển Nha Trang (mô đun độ lớn 3,0; bùn bụi sét 0,57%; hàm lượng Cl- đạt 3,0 g/m3; SO42- đạt 2,55 g/m3), đá dăm 1x2 mỏ Hòn Ngang - Diên Khánh (độ nén dập trong xi lanh 7,3%; hạt thoi dẹt 5,8%), nước máy sinh hoạt và nước biển Vịnh Nha Trang lấy cách bờ 20 m (độ pH 8,32; hàm lượng muối hòa tan 34,765 g/l; Cl- 17,906 g/l; SO42- 2,067 g/l). Chất phụ gia được chọn là siêu hóa dẻo giảm nước cao cấp gốc polymer thế hệ thứ ba Sika Viscocrete 3000-10 với tỷ trọng từ 1,04 đến 1,07 kg/lít.

Quy mô thực nghiệm bao gồm tổng cộng 180 mẫu thử khối lập phương chuẩn kích thước 150x150x150 mm, phân bổ thành 60 tổ mẫu (mỗi tổ 3 viên theo quy định). Các mẫu được chế tạo theo 10 cấp phối định lượng trên 1 m3 bê tông dựa theo định mức tại Quyết định số 1329/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng:

  • Nhóm cấp bền B15 (M200, sử dụng 293 kg xi măng PCB40, 0,847 m3 đá dăm, 0,466 m3 cát): CP1 (cát vàng, nước máy), CP2 (cát biển, nước biển), CP3 (cát biển, nước máy), CP4 (cát biển, nước biển, 0,7% phụ gia, giảm 5% nước), CP5 (cát biển, nước biển, 1,0% phụ gia, giảm 10% nước).
  • Nhóm cấp bền B20 (M250, sử dụng 341 kg xi măng PCB40, 0,838 m3 đá dăm, 0,447 m3 cát): CP6 (cát vàng, nước máy), CP7 (cát biển, nước biển), CP8 (cát biển, nước máy), CP9 (cát biển, nước biển, 0,7% phụ gia, giảm 5% nước), CP10 (cát biển, nước biển, 1,0% phụ gia, giảm 10% nước).

Quy trình đầm tạo hình và dưỡng ẩm tiêu chuẩn ở nhiệt độ 27 ± 2 độ C, độ ẩm trên 95% tuân thủ nghiêm ngặt TCVN 3105:1993. Phép thử phá hủy nén được thực hiện trên máy nén thủy lực TYA-2500 công suất 2500 kN tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Xây dựng Khánh Hòa (LAS-XD 1396) với tốc độ tăng tải từ 4 đến 6 daN/cm2/s theo TCVN 3118:1993 tại 6 mốc tuổi gồm 3, 7, 14, 28, 60 và 90 ngày nhằm đảm bảo độ tin cậy thống kê vượt 95%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả thử nghiệm nén 180 viên mẫu đã chỉ ra những quy luật biến thiên cường độ chịu nén vô cùng rõ rệt giữa các nhóm cấp phối:

Thứ nhất, việc sử dụng trực tiếp cát biển và nước biển tự nhiên không phụ gia làm suy giảm đáng kể cường độ chịu nén ở tuổi chuẩn 28 ngày. Ở mác 200, mẫu đối chứng CP1 (cát vàng, nước ngọt) đạt 253,89 daN/cm2, trong khi CP2 (cát biển, nước biển) chỉ đạt 162,40 daN/cm2 (tương đương 63,96% so với mẫu chuẩn). Ở mác 250, mẫu CP6 chuẩn đạt 277,23 daN/cm2, trong khi CP7 (cát biển, nước biển) chỉ đạt 192,36 daN/cm2 (đạt 69,38% so với đối chứng).

Thứ hai, bê tông cát biển và nước biển thể hiện tốc độ phát triển cường độ ban đầu (3 đến 7 ngày) rất nhanh. Tại 3 ngày tuổi, cấp phối CP2 đạt 104,44 daN/cm2, chiếm tới 64,31% cường độ tuổi 28 ngày của chính nó. Đặc biệt ở cấp phối CP10 (M250 có 1% phụ gia), cường độ 3 ngày đạt mức 161,53 daN/cm2, cao hơn 9,03% so với mẫu bê tông truyền thống CP6 (đạt 148,15 daN/cm2).

Thứ ba, sự kết hợp của phụ gia siêu dẻo Sika Viscocrete 3000-10 đã khắc phục hoàn toàn hiện tượng suy giảm cường độ dài hạn. Với tỷ lệ phụ gia 0,7% (giảm 5% nước), cường độ 28 ngày của CP4 (M200) đạt 187,97 daN/cm2 (tăng 15,74% so với CP2) và CP9 (M250) đạt 216,02 daN/cm2 (tăng 12,30% so với CP7). Khi nâng tỷ lệ phụ gia lên 1,0% (giảm 10% nước), cấp phối CP5 đạt 211,28 daN/cm2 ở 28 ngày và 228,14 daN/cm2 ở 90 ngày (vượt mác thiết kế M200); cấp phối CP10 đạt 231,72 daN/cm2 ở 28 ngày và chạm mốc 253,44 daN/cm2 ở 90 ngày, hoàn toàn thỏa mãn cấp độ bền thiết kế B20 (M250).

Thảo luận kết quả

Cơ chế hóa lý giải thích hiện tượng tăng cường độ nhanh trong 7 ngày đầu của bê tông nước biển là do hàm lượng ion Cl- cao (17,906 g/l) đóng vai trò chất xúc tác thúc đẩy phản ứng thủy hóa khoáng C3S và C3A diễn ra mạnh mẽ, hình thành nhanh mạng tinh thể canxi hydrosilicat. Tuy nhiên, sau 28 đến 90 ngày, sự hiện diện của muối khoáng tổng số 34,765 g/l cùng gốc SO42- (2,067 g/l) tạo ra các hợp chất dễ hòa tan hoặc khoáng trương nở, cản trở sự liên kết đặc chắc của đá xi măng và tạo ra các vi lỗ rỗng tự do.

Khi bổ sung phụ gia polyme Sika 3000-10, các chuỗi polymer bám dính trên bề mặt hạt xi măng tạo lực đẩy tĩnh điện và hiệu ứng cản trở không gian, giúp phân tán đều các hạt mịn. Nhờ đó, lượng nước nhào trộn giảm được từ 10 đến 20 lít/m3 (tương đương giảm 5% đến 10%), tỷ lệ Nước/Xi măng giảm sâu, làm tăng độ chặt của cấu trúc đá xi măng, triệt tiêu độ rỗng và kháng lại tác động tiêu cực của các ion muối.

Về phương thức trực quan hóa dữ liệu nghiên cứu, toàn bộ kết quả nén từ 3 đến 90 ngày được tổng hợp trực quan qua biểu đồ đường động học phát triển cường độ và biểu đồ cột so sánh tương quan phần trăm giữa 10 cấp phối, phản ánh rõ nét bước nhảy cường độ khi có và không có mặt phụ gia polyme.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết luận thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật mang tính ứng dụng cao cho ngành xây dựng:

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình cấp phối bê tông cát biển - nước biển kết hợp phụ gia siêu dẻo. Khuyến nghị các đơn vị tư vấn thiết kế và nhà thầu áp dụng tỷ lệ phụ gia gốc polyme từ 0,7% đến 1,0% khối lượng xi măng kết hợp giảm từ 5% đến 10% lượng nước trộn, nhằm đảm bảo cường độ nén 28 ngày đạt trên 200 daN/cm2 đối với mác B15 và trên 230 daN/cm2 đối với mác B20. Đơn vị thực hiện là các phòng thí nghiệm LAS-XD và nhà thầu thi công hạ tầng ven biển, áp dụng ngay trong năm 2026.

Thứ hai, triển khai sản xuất cấu kiện bê tông không cốt thép quy mô công nghiệp tại các huyện đảo và vùng bãi ngang duyên hải. Mục tiêu ứng dụng cát biển và nước biển tại chỗ để đúc khối Tetrapod kè biển, tấm lát vỉa hè, gạch block xây tường và cấu kiện móng không cốt thép, hướng tới thay thế từ 30% đến 40% khối lượng cát sông thương phẩm. Chủ thể triển khai là các doanh nghiệp sản xuất bê tông thương phẩm dưới sự hướng dẫn của Sở Xây dựng Khánh Hòa trong giai đoạn 2026 - 2028.

Thứ ba, thiết lập quy chuẩn kiểm soát nồng độ muối đầu vào của vật liệu địa phương. Các trạm trộn cần kiểm định định kỳ hàm lượng tạp chất hữu cơ, chỉ số Cl- dưới 3,5 g/m3 và SO42- dưới 2,7 g/m3 trong cát biển trước khi phối trộn để ngăn ngừa hiện tượng ăn mòn cấu trúc vữa. Thời gian thực hiện định kỳ hàng quý do Trung tâm Kiểm định Xây dựng chủ trì.

Thứ tư, đẩy mạnh nghiên cứu bảo vệ chống ăn mòn cho kết cấu bê tông cốt thép sử dụng vật liệu biển. Khuyến nghị các trường đại học và viện nghiên cứu phối hợp thử nghiệm giải pháp thay thế cốt thép truyền thống bằng thanh cốt sợi composite thủy tinh hoặc sợi bazan (FRP), kết hợp xi măng bền sunfat để mở rộng tuổi thọ công trình lên trên 50 năm trong môi trường xâm thực mặn. Lộ trình thực hiện đề xuất kéo dài từ 1 đến 2 năm tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và tập dữ liệu thực nghiệm của luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Kỹ sư kết cấu và chỉ huy trưởng công trình biển đảo: Giúp nắm vững công thức phối trộn vật liệu tại chỗ, giải bài toán thiếu nước ngọt và cát vàng, đồng thời tối ưu hóa 20% đến 30% chi phí vận chuyển vật tư ra các đảo xa bờ.
  2. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học để Sở Xây dựng và Ủy ban nhân dân các tỉnh ven biển ban hành định mức dự toán xây dựng chuyên ngành, hỗ trợ giải quyết tình trạng thiếu hụt từ 150.000 đến 450.000 m3 cát xây dựng mỗi năm.
  3. Doanh nghiệp sản xuất vật liệu và bê tông đúc sẵn: Hướng dẫn chi tiết quy trình công nghệ đưa phụ gia siêu dẻo vào dây chuyền sản xuất gạch block, ống cống không cốt thép, cấu kiện đê kè chắn sóng với biên lợi nhuận cải thiện từ 15% đến 20%.
  4. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Xây dựng: Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm chuẩn tắc gồm 180 mẫu thử kéo dài đến 90 ngày tuổi, làm tiền đề mở rộng các đề tài nghiên cứu về bê tông tính năng cao trong môi trường biển nhiệt đới.

Câu hỏi thường gặp

Bê tông sản xuất từ cát biển và nước biển tự nhiên có đạt yêu cầu chịu lực thiết kế không? Có, nhưng cần phải bổ sung phụ gia hóa dẻo giảm nước. Nếu không có phụ gia, bê tông cát biển nước biển chỉ đạt khoảng 64% đến 69% cường độ so với bê tông chuẩn. Khi bổ sung 1,0% phụ gia Sika 3000-10, cường độ 28 ngày đạt 211,28 daN/cm2 (vượt chuẩn M200) và ở 90 ngày đạt 253,44 daN/cm2 (đạt chuẩn M250).

Tại sao bê tông nước biển lại phát triển cường độ rất nhanh trong 3 ngày đầu? Do trong nước biển chứa hàm lượng muối clorua hòa tan cao (khoảng 17,906 g/l Cl-). Ion Cl- hoạt động như một chất kích thích đông kết nhanh, gia tốc phản ứng thủy hóa của khoáng xi măng C3S, giúp mẫu CP10 đạt tới 161,53 daN/cm2 chỉ sau 3 ngày, cao hơn mẫu nước ngọt đối chứng.

Luận văn có cho phép sử dụng cấp phối cát biển nước biển cho bê tông cốt thép thông thường không? Chưa cho phép áp dụng cho kết cấu cốt thép thông thường. Ion clorua tự do trong nước biển sẽ phá hủy màng thụ động bảo vệ thép, gây rỉ sét và nứt vỡ kết cấu nhanh chóng. Đề tài khuyến nghị chỉ ứng dụng cho kết cấu bê tông không cốt thép hoặc cần nghiên cứu dùng cốt sợi phi kim loại.

Phụ gia siêu hóa dẻo Sika Viscocrete 3000-10 đóng vai trò gì trong cấp phối? Phụ gia polyme thế hệ 3 này giúp phân tán đồng đều các hạt xi măng mịn, giảm lượng nước trộn từ 5% đến 10% mà vẫn duy trì độ sụt tiêu chuẩn 6 đến 8 cm. Nhờ đó, cấu trúc đá xi măng đặc chắc hơn, bù đắp hoàn toàn sự suy giảm cường độ do muối biển gây ra.

Cát biển khu vực Nha Trang có cần qua công đoạn rửa mặn bằng nước ngọt trước khi đúc không? Trong phạm vi chế tạo bê tông không cốt thép theo nghiên cứu, cát biển Nha Trang có hàm lượng Cl- ở mức 3,0 g/m3 và SO42- là 2,55 g/m3 có thể sử dụng trực tiếp kết hợp phụ gia mà không cần qua quy trình rửa lọc nước ngọt tốn kém, giúp tiết kiệm triệt để tài nguyên nước.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh tính khả thi khoa học và thực tiễn cao của việc sử dụng cát biển và nước biển Nha Trang để sản xuất bê tông không cốt thép đạt cấp độ bền B15 và B20.
  • Khẳng định vai trò quyết định của phụ gia siêu dẻo Sika Viscocrete 3000-10 với liều lượng tối ưu 1,0% giúp tăng 30,1% cường độ nén ở 28 ngày so với mẫu cát biển không phụ gia.
  • Xác lập bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác qua 180 mẫu nén ở 6 mốc tuổi từ 3 đến 90 ngày, tuân thủ chặt chẽ hệ thống tiêu chuẩn quốc gia TCVN.
  • Đóng góp giải pháp công nghệ trực tiếp nhằm tháo gỡ bài toán khan hiếm cát xây dựng cục bộ từ 1,6 đến 1,9 triệu m3/năm và hạ giá thành xây dựng công trình biển đảo tại Khánh Hòa.
  • Đề ra định hướng ứng dụng thực tế ngay trong giai đoạn 2026 - 2028 cho các cấu kiện hạ tầng bảo vệ bờ biển, mở đường cho các đề tài nghiên cứu bê tông cốt sợi composite tiếp theo.

Hãy liên hệ ngay với các đơn vị tư vấn và phòng thí nghiệm chuyên ngành để ứng dụng giải pháp bê tông cát biển bền vững vào dự án công trình ven biển của bạn!