ĐẶT VẤN ĐỀ Nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng là một trong những công việc quan trọng để quản lý rừng có hiệu quả. Mặc dù, việc nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng đã đƣợc tiến hành từ lâu và ở nhiều nơi, cho nhiều đối tƣợng rừng khác nhau nhƣng những nghiên cứu này vẫn không thể bao quát cho mọi khu rừng, kể cả rừng “khộp” – một loại rừng đặc trƣng ở Tây Nguyên. Rừng “khộp” phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên Việt Nam, với diện tích 900. Tuy nhiên, sự hiểu biết về rừng khộp thì còn quá ít, cả về giá trị kinh tế và các đặc trƣng lâm học.
Vì thế trong thời gian qua, đã có nhiều tác động thiếu tích cực vào loại rừng này, hàng trăm ha bị “cạo trắng” để chuyển sang trồng cây công nghiệp. Đây là điều đáng quan tâm đặt ra cho ngành lâm nghiệp. Rừng khộp còn gọi là rừng lá rộng rụng lá (trên thế giới gọi là rừng khô cây họ Dầu) thƣờng phân bố ở độ cao 300 mét đến 500 mét.000 ha, chiếm 41,8% tổng diện tích rừng khộp ở Tây Nguyên. Rừng khộp có những đặc trƣng và quy luật đặc thù của hệ sinh thái rừng nhiệt đới; cấu trúc tầng đơn giản, cấp tuổi không đồng đều, năng suất sinh trƣởng thấp; năng lực tái sinh kém hơn rừng thƣờng xanh và nửa rụng lá; lƣợng tái sinh không quá 10.
Rừng đã qua khai thác tái sinh càng kém khoảng 1. Điều kiện sinh thái khá cực đoan, chỉ phù hợp cho những loài cây chịu đƣợc nạn lửa rừng hàng năm. Đặc điểm này dẫn tới việc tái sinh có nguồn gốc từ chồi rất mạnh đạt từ 80% đến 90%. Vị thế của rừng khộp quan trọng không chỉ là kho tài nguyên phong phú cung cấp gỗ, củi và hơn 150 loài cây cho lá, quả, làm thức ăn cho ngƣời và động vật, 64 loài cây thuốc mà còn có nhiều loài cây cho tinh dầu, nhựa dùng trong công nghiệp sơn, đánh bóng gỗ, kiến trúc hội họa.
2 Thảm rừng khộp là một hệ sinh thái bền vững, tác động vào rừng bằng biện pháp “cạo trắng” để trồng cây công nghiệp (cao su, cà phê, tiêu, điều.) đã phá vỡ kết cấu sinh thái định hình của rừng, làm gia tăng tác động của biến đổi khí hậu, gây suy giảm đa dạng sinh học. Điều đáng quan tâm là nguy cơ làm thoái hóa đất, mất khả năng hoàn bù dinh dƣỡng cho đất, dần dần dẫn đến hiện tƣợng sa mạc hóa; chƣa kể đến những hệ lụy nguy hiểm tiềm ẩn sẽ ảnh hƣởng nghiêm trọng đến môi trƣờng và xã hội. Trong khi đó, nếu đƣợc gìn giữ, bảo vệ các khu rừng nguyên sinh có khả năng tự tạo ra chất dinh dƣỡng, làm màu mỡ đất đai, có khả năng tích tụ điều hòa nguồn nƣớc, chống bốc hơi, chống ô nhiễm nguồn nƣớc và không khí. Do đó, việc có kế hoạch bảo vệ, khoanh nuôi tài nguyên rừng khộp hợp lý là rất cần thiết.
Tuy nhiên, số liệu về cấu trúc và tái sinh rừng khộp phục vụ cho công tác quản lý và bảo tồn còn thiếu và chƣa cập nhật, nên việc tác động vào rừng bằng bất kỳ biện pháp kỹ thuật nào cũng gặp khó khăn, hoặc nếu có thì hiệu quả của các biện pháp tác động không cao, gây nhiều hậu quả tiêu cực đối với rừng. Vì vậy, Để có cái nhìn tổng quan hơn về hiện trạng rừng khộp ở Tây Nguyên, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên rừng khộp Nam Tây Nguyên tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng”. Đề tài này đƣợc thực hiện nhằm mục đích làm rõ hơn một số đặc điểm về cấu trúc và tái sinh rừng nơi đây. Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp thích hợp cho công tác quản lý rừng tại Di Linh, Lâm Đồng một cách bền vững hơn.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng - Về mô tả hình thái cấu trúc rừng: Richards P. W (1952) đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mƣa nhiệt đới về mặt hình thái.
Theo tác giả này, một đặc điểm nổi bật của rừng mƣa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phân thực vật đều thuộc thân gỗ. Rừng mƣa thƣờng có nhiều tầng. Trong rừng mƣa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân cỏ còn có nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thƣớc, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây. Khi nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên nhiệt đới, nhiều tác giả có ý kiến khác nhau trong việc xác định tầng thứ, trong đó có ý kiến cho rằng, kiểu rừng này chỉ có một tầng cây gỗ mà thôi.
Richards (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng với các giới hạn chiều cao là 6 –12m, 12–18m, 18-24m, 24-30m, 30-36m và 36-42m, nhƣng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao. (1971) nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dƣới 600m ở Puecto – Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả. Nhƣ vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thƣờng đƣa ra những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ giới nên chƣa phản ánh đƣợc sự phân phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới. - Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng: Trong một thời gian dài, vấn đề duy trì và điều tiết cấu trúc rừng đã đƣợc bàn luận và có rất nhiều quan điểm khác nhau, đặc biệt là việc đề xuất các tác động xứ lý đối với rừng tự nhiên nhiệt đới.
Nhiều phƣơng thức lâm sinh ra đời 4 và đƣợc thử nghiệm ở nhiều nơi trên thế giới nhƣ phƣơng thức chặt cải thiện tái sinh (RIF, 1927), phƣơng thức rừng đều tuổi của Malaysia (MUS, 1945), T.S của Nigeria (1944, 1961)… Catinot (1965) nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các phẩu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến… Odum E. Khái niệm hệ sinh thái đƣợc làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học. Khi nghiên cứu tổ thành rừng tự nhiên nhiệt đới thành thục, Evans J. (1984) xác định có tới 70 - 100 loài cây gỗ trên 1 ha, nhƣng hiếm có loài nào chiếm hơn 10% tổ thành loài.
- Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng: Khi chuyển đổi từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lƣợng cấu trúc rừng, nhiều tác giả đã sữ dụng các công thức và hàm toán học để mô hình hoá cấu trúc rừng, xác định mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc của rừng. Raunkeaur (1934) đã đƣa ra công thức xác định phổ dạng sống chuẩn cho hàng nghìn loài cây khác nhau. Theo đó, công thức phổ dạng sống chuẩn đƣợc xác định theo tỷ lệ phần trăm giữa số lƣợng cá thể của tổng dạng sống so với tổng số cá thể trong một khu vực. Để biểu thị tính đa dạng về loài, một số tác giả đã xây dựng các công thức xác định chỉ số đa dạng loài nhƣ Simpson (1949), Margalef (1958), Menhinik (1964) để dánh giá mức độ phân tán hay tập trung của các loài, đặc biệt là lớp thảm tƣơi, Drude đã đƣa ra khái niệm độ nhiều và cách xác định.
Đây là những nghiên cứu mang tính định lƣợng nhƣng xuất phát từ những cơ sở sinh thái nên đƣợc đề tài lựa chọn và vận dụng. 5 Các nghiên cứu định lƣợng cấu trúc rừng còn phát triển mạnh mẽ khi các hàm toán học đƣợc đƣa vào sử dụng để mô phỏng các quy luật kết cấu lâm phần. (1971) đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đƣờng kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đƣờng kính ngang ngực, đƣờng kính tán bằng các dạng phân bố xác suất. Belly (1973) sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đƣờng kính thân cây loài Thông,… Tuy nhiên, việc sử dụng các hàm toán học không thể phản ánh hết những mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng với nhau và giữa chúng với hoàn cảnh xung quanh, nên các phƣơng pháp nghiên cứu cấu trúc rừng theo hƣớng này không đƣợc vận dụng trong đề tài.
Một vấn đề nữa có liên quan đến nghiên cứu cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo. Nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hƣớng này, khi nghiên cứu ngoại mạo của Quần xã thực vật đã không tách khỏi hoàn cảnh sinh thái của nó, từ đó hình thành xu hƣớng phân loại rừng theo ngoại mạo sinh thái. Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, có nhiều công trình nghiên cứu công phu và đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng. Tuy nhiên, chƣa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên các trạng thái rừng khộp Nam Tây Nguyên tại huyện Di Linh.
Do vậy, nghiên cứu này sẽ góp phần xây dựng sở khoa học việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật cho rừng khộp Nam Tây Nguyên tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng một cách hiệu quả. Nghiên cứu về tái sinh rừng Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng. Biểu hiện đặc trƣng của tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở các nơi có hoàn cảnh rừng. Vì vậy, tái sinh rừng, 6 hiểu theo nghĩa hẹp, là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ.
Sự xuất hiện lớp cây con là nhân tố mới làm phong phú thêm số lƣợng và thành phần loài trong quần lạc sinh vật (thực vật, động vật, vi sinh vật), đóng góp vào việc hình thành tiểu hoàn cảnh rừng và làm thay đổi cả quá trình trao đổi vật chất và năng lƣợng diễn ra trong hệ sinh thái. Do đó, tái sinh rừng có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng. Tái sinh rừng thúc đẩy việc hình thành cân bằng sinh học trong rừng, đảm bảo cho rừng tồn tại liên tục và do đó bảo đảm cho việc sử dụng rừng thƣờng xuyên. Do sự phát triển công nghiệp thế kỷ XIX, trong ngành lâm nghiệp của thế giới đã hình thành xu hƣớng thay thế rừng tự nhiên bằng rừng nhân tạo năng suất cao nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế.