CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUÔC TẾ VÀ RỦI RO THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm thanh toán quốc tế Quan hệ quốc tế giữa các nước bao gồm nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, khoa học kỹ thuật. trong đó, quan hệ kinh tế mà chủ yếu là ngoại thương chiếm vị trí chủ đạo, là cơ sở cho các quan hệ quốc tế khác tồn tại và phát triển.
Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫn đến nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau, từ đó hình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế. Do các chủ thể ở các nước khác nhau nên họ có khác biệt về mặt ngôn ngữ và khoảng cách về mặt địa lý, vì vậy việc thanh toán trực tiếp khó có thể tiến hành mà cần thông qua tổ chức trung gian là ngân hàng thương mại. Thanh toán quốc tế có thể được định nghĩa như sau: “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân giữa nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước.”[1, tr14] TTQT là một khâu rất quan trọng trong quá trình thực hiện buôn bán – trao đổi hàng hóa – dịch vụ giữa các nước. Nó phản ánh sự vận động có tính chất quy luật của giá trị trong quá trình chu chuyển hàng hóa tiền tệ giữa các quốc gia và được xem là khâu cuối cùng trong một giao dịch kinh tế.
TTQT không đơn thuần giống hoạt động thanh toán trong quan hệ giao dịch mua bán trong nước, nó có một số đặc điểm nổi bật sau đây: Thứ nhất, TTQT chịu sự điều chỉnh của luật pháp và các tập quán quốc tế. Hoạt động TTQT liên quan đến các chủ thể ở hai hay nhiều quốc gia, do đó, các chủ thể khi tham gia vào hoạt động TTQT không những chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia, mà còn phải tuân thủ các văn bản pháp lý quốc tế, các tập quán quốc tế do phòng Thương mại quốc tế ban hành như: Quy tắc và thực hành thống nhất Tín dụng chứng 5 từ (UCP), Quy tắc thống nhất về nhờ thu (URC), Các điều kiện thương mại quốc tế (INCOTERMS). Những văn bản này tạo ra một khung pháp lý bình đẳng, công bằng cho các chủ thể khi tham gia vào hoạt động thương mại và TTQT, tránh những hiểu lầm và tranh chấp đáng tiếc xảy ra. Thứ hai, hoạt động TTQT được thực hiện phần lớn thông qua hệ thống ngân hàng, sẽ có ít nhất hai ngân hàng tham gia, một ngân hàng phục vụ người xuất và một ngân hàng phục vụ người nhập ở hai nước khác nhau.
Việc thanh toán qua ngân hàng đảm bảo cho các khoản chi trả được thực hiện an toàn, nhanh chóng, hiệu quả. Thứ ba, trong TTQT, tiền mặt hầu như không được sử dụng trực tiếp, mà thay vào đó là các phương tiện thanh toán như hối phiếu, kỳ phiếu và séc. Thứ tư, trong TTQT, ít nhất một trong hai bên (hoặc người XK hoặc người NK) có liên quan đến ngoại tệ (trừ khu vực đồng tiền chung). Do đó, hoạt động TTQT chịu sự ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại hối quốc gia.
Thứ năm, ngôn ngữ trong TTQT được sử dụng chủ yếu là tiếng Anh. Thứ sáu, giải quyết tranh chấp chủ yếu bằng luật quốc tế, hoặc luật quốc gia của nước thứ ba, hoặc luật cuả nước người xuất hay nước người nhập do các bên thỏa thuận thông qua con đường trọng tài hay tòa án. Các điều kiện thanh toán quốc tế Để thực hiện TTQT, điều khoản thanh toán quy định trong hợp đồng ngoại thương các bên tham gia cần quan tâm đến các điều kiện về tiền tệ, địa điểm, thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán. Điều kiện về tiền tệ Liên quan đến điều kiện tiền tệ, các bên cần thỏa thuận những vấn đề như: đồng tiền tính giá (đồng tiền tính toán), đồng tiền thanh toán và bảo đảm rủi ro tỷ giá.
Đồng tiền tính toán: Là đồng tiền dùng để biểu diễn giá cả hàng hóa và tính toán tổng hợp giá trị hợp đồng ngoại thương. Đồng tiền thanh toán: Là đồng tiền được sử dụng thanh toán công nợ, thanh toán giá trị hợp đồng ngoại thương. Để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, nhà kinh doanh XNK có thể sử dụng các công cụ 6 như hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn hay tương lai. Điều kiện về địa điểm thanh toán Địa điểm thanh toán là nơi người bán nhận tiền còn người mua trả tiền.
Trên lý thuyết, việc thanh toán có thể diễn ra ở nước người bán, nước người mua hoặc một nước thứ ba. Trong thực tế, việc lựa chọn địa điểm thanh toán phụ thuộc chủ yếu vào: - Tương quan lực lượng giữa hai bên trong quan hệ hợp đồng - Phương thức thanh toán - Đồng tiền thanh toán của nước nào 1. Điều kiện về thời hạn thanh toán Điều kiện về thời gian thanh toán quy định khi nào người NK phải trả tiền cho người XK, do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ luân chuyển vốn, tới khả năng hạn chế rủi ro về lãi suất, tỷ giá, thanh khoản… đối với các bên tham gia hợp đồng. Nếu lấy thời điểm chuyển giao hàng hóa làm mốc, thời gian thanh toán có thể là trả tiền trước, trả tiền ngay, trả tiền sau hoặc kết hợp các cách này.
Trả tiền trước Là việc người mua phải trả tiền cho người bán toàn bộ hoặc một phần tiền hàng trước khi người bán chuyển giao hàng hóa dưới quyền định đoạt của người mua hoặc trong khoảng thời gian từ khi người bán chấp nhận đơn đặt hàng cho đến trước khi người bán thực hiện đơn hàng của người mua. Mức tiền ứng trước nhiều hay ít phụ thuộc vào thị trường là của người mua hay của người bán. Ngoài ra việc ứng trước tiền còn phụ thuộc vào tầm quan trọng của hàng hóa, thời hạn sản xuất của hàng hóa, mối quan hệ giữa các bên giao dịch và tập quán trong ngành buôn bán có liên quan. Trả tiền ngay Căn cứ vào thời điểm chuyển giao hàng hóa, thì thanh toán ngay bao gồm: - Thanh toán diễn ra ngay khi người xuất khẩu đặt hàng hóa dưới quyền định đoạt của người nhập khẩu.
7 - Thanh toán diễn ra ngay khi người XK đặt bộ chứng từ hàng hóa dưới quyền định đoạt của người NK. Người XK sau khi giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán chuyển cho người NK và yêu cầu được thanh toán ngay. - Thanh toán diễn ra ngay sau khi người NK nhận xong hàng hóa tại nơi quy định. Địa điểm người NK nhận hàng có thể tại nước người XK, tại nước người NK hay tại nước thứ ba theo thỏa thuận.
Trả tiền sau Cũng lấy thời điểm chuyển giao hàng hóa làm mốc, trả tiền sau có ý người bán giao hàng trước và thu tiền sau, hay nói cách khác, người bán cung cấp cho người mua một khoản tín dụng theo sự thỏa thuận giữa hai bên. Việc người mua trả tiền được thực hiện trong các trường hợp sau: - Người mua trả tiền sau bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận được thông báo của người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng tại nơi quy định. - Người mua trả tiền sau bao nhiêu ngày kể từ ngày chấp nhận hối phiếu. - Người mua trả tiền sau bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận được bộ chứng từ.
- Người mua trả tiền sau bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận hàng. Trong thực tế, người ta có thể kết hợp cả ba cách trả tiền nêu trên, nghĩa là kết hợp trả trước, trả ngay và trả sau. Điều kiện về phương thức thanh toán Phương thức thanh toán là toàn bộ nội dung, điều kiện và cách thức để ngân hàng tiến hành chuyển tiền và nhận tiền giữa người mua và người bán. Điều khoản phương thức thanh toán là một bộ phận không thể thiếu cấu thành nên hợp đồng ngoại thương.
Lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp cho từng thương vụ, mối quan hệ giữa các bên hợp đồng… là một yếu tố góp phần hạn chế rủi ro TTQT. Hiện nay, có các phương thức thanh toán chủ yếu sau đây: phương thức ứng trước, phương thức ghi sổ, phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu và phương thức tín dụng chứng từ. Các phương thức thanh toán quốc tế thông dụng Phương thức TTQT là toàn bộ quá trình, điều kiện, quy định mà người mua thực hiện để trả tiền và nhận hàng còn người bán nhận tiền và giao hàng trong thương mại quốc tế. Có nhiều phương thức TTQT khác nhau và việc lựa chọn phương thức nào phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa hai bên và phù hợp với luật lệ, tập quán trong thanh toán quốc tế.
Hiện nay, người ta áp dụng ba phương thức TTQT chủ yếu sau đây: 1. Phương thức chuyển tiền a. Khái niệm Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng của ngân hàng (người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình (ngân hàng chuyển tiền) chuyển một số tiền nhất định cho người khác (người thụ hưởng) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian nhất định. Căn cứ vào hình thức chuyển tiền, chuyển tiền gồm hai loại: - Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer – M/T): là hình thức chuyển tiền, trong đó lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được chuyển bằng thư cho ngân hàng trả tiền.
Chuyển tiền bằng thư chậm nhưng có chi phí thấp. Ngày nay, chuyển tiền bằng thư là rất hạn chế. - Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – T/T): là hính thức chuyển tiền, trong đó lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức điện gửi cho ngân hàng trả tiền bằng mạng SWIFT. Chuyển tiền bằng điện là hình thức chuyển tiền hiện đại và phổ biến hiện nay, nó diễn ra nhanh chóng, chính xác và an toàn hơn bằng thư, tuy nhiên, chuyển tiền bằng điện phải chịu chi phí cao hơn chuyển tiền bằng thư.
Các bên tham gia - Người chuyển tiền: là người mua, người NK, hay người mắc nợ. - Ngân hàng chuyển tiền: là ngân hàng phục vụ cho người chuyển tiền. 9 - Ngân hàng trả tiền: là ngân hàng phục vụ cho người thụ hưởng và có quan hệ đại lý với ngân hàng chuyển tiền. - Người thụ hưởng: là người bán, người XK hay chủ nợ.