Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu v rối nhi u cảm x c ở trẻ vị thành niên Chương 2: Cơ sở lý luận v rối nhi u cảm x c của học sinh trung học cơ sở Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực ti n v thực trạng nguy cơ rối nhi u cảm x c ở học sinh trung học cơ sở và các yếu tố liên quan. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHI N CỨU VỀ R I NHIỄU CẢM C Ở TRẺ VỊ THÀNH NI N 1. Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, vấn đ nghiên cứu RNCX (“emotional disorders”) ở trẻ em và thanh thiếu niên đã và đang thu h t nhi u công trình nghiên cứu với quy mô khác nhau, cả trên bình diện lý luận và bình diện thực nghiệm.
Khi nói đến RNCX, có ba dạng cơ bản thường được đ cập là: lo âu, trầm cảm và stress. Vì vậy, khi sử dụng từ khóa tìm kiếm, ch ng tôi đồng thời sử dụng các từ sau đây: “emotional disorders”, “anxiety”, “depresion”, “stress” (in adolescents) để tìm tài liệu. Kết quả đã tìm được hơn 100 tài liệu có liên quan tới chủ đ này. Có thể khái quát lĩnh vực này theo bốn khía cạnh nghiên cứu cơ bản: (1) các nghiên cứu v thực trạng RNCX, (2) nghiên cứu v các yếu tố liên quan tới RNCX, (3) nghiên cứu v phương pháp đánh giá, chẩn đoán RNCX và (4) nghiên cứu v các chương trình phòng ngừa, can thiệp RNCX.
Những nghiên cứu về thực trạng rối nhiễu cảm xúc Quá trình tìm hiểu các tài liệu cho thấy các nghiên cứu trên thế giới có những nghiên cứu v vấn đ RNCX riêng biệt, song cũng có những nghiên cứu v vấn đ SKTT, trong đó có đ cập đến RNCX. Bên cạnh đó, lại có những nghiên cứu v RNCX theo từng dạng rối nhi u cụ thể như: trầm cảm, lo âu, stress. Các nghiên cứu v RNCX như một vấn đ riêng biệt đưa ra tỉ lệ trẻ VTN gặp phải vấn đ này khá khác biệt tại các quốc gia được tiến hành nghiên cứu. Nghiên cứu tại Hà Lan trên nhóm trẻ khiếm thính, sử dụng bộ công cụ khảo sát CBCL cho thấy có 27% số trẻ tham gia nghiên cứu gặp vấn đ v RNCX (Van Gent, Tiejo, 2007).
Một nghiên cứu công bố năm 2015 tại Mỹ lại chỉ ra chỉ có từ 11% - 20% trẻ có vấn đ RNCX tại thời điểm với độ tuổi nghiên cứu bất kỳ, nhưng tại thời điểm 16 tuổi, có đến 39% trẻ ở quốc gia này có vấn đ RNCX (Weitzman, Carol, 2015). Kết quả nghiên cứu v RNCX được tìm thấy nhi u nhất trong các nghiên cứu dịch t chung v vấn đ SKTT, trong đó RNCX như là một trong các vấn đ của SKTT. Một nghiên cứu tổng quan v SKTT tại Hồng Kông cho thấy có 8.8% trẻ em trong nhóm khách thể nghiên cứu có vấn đ v RNCX (Wong, 1990). Các nghiên cứu ở Anh chỉ ra tỉ lệ chung trẻ em và VTN từ 4 đến 18 tuổi trong cộng đồng có rối loạn tâm thần (mental disorders), bao gồm cả RNCX vào khoảng 15% (Meltzer, 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Gatward, Goodman, & Ford, 2000).
Tỉ lệ này được chỉ ra ở Puerto Rico là 19. Trong khi đó, tỉ lệ trẻ từ 9 đến 17 tuổi gặp vấn đ SKTT, bao gồm cả RNCX ở Mỹ là 20. Vào năm 2009, một nghiên cứu dịch t học tại Ai Cập đã sử dụng bộ công cụ SDQ để đi u tra trên 1186 trẻ từ 6 - 12 tuổi cho biết, có 20.6% trẻ gặp phải các vấn đ SKTT, bao gồm RNCX (Elhamid, Asmaa Abd, 2009). Các nghiên cứu của Hoa Kỳ công bố năm 2013 cũng chỉ ra các rối loạn tâm thần rất phổ biến ở VTN, ước tính có khoảng 20% thanh thiếu niên ở quốc gia này được chẩn đoán mắc các vấn đ rối nhi u (Murphey, Barry và Vaughn, 2013).
Bên cạnh đó, có nhi u nghiên cứu RNCX theo các dạng rối nhi u cụ thể như: stress, lo âu, trầm cảm, trong đó chỉ ra thực trạng tỉ lệ RNCX theo các dạng này: Theo các nghiên cứu trong lĩnh vực Tâm lý học đường ở Mỹ, rối loạn lo âu và trầm cảm chiếm khoảng 3% - 20% trong tổng số học sinh ở các cấp học khác nhau. Một nghiên cứu chỉ ra rằng có tới 13% số trẻ trong nghiên cứu có rối loạn lo âu. Với bộ công cụ nghiên cứu do trẻ tự đánh giá, kết quả chỉ ra tỉ lệ trẻ nữ gặp vấn đ lo âu lớn hơn các trẻ nam (Puskar, Kathryn, 2009). Rất nhi u nghiên cứu khác cho thấy khoảng 10% đến 50% trẻ trải qua những triệu chứng phụ (trầm cảm thứ yếu); học sinh nam bị mắc nhi u gấp đôi học sinh nữ trong độ tuổi 13 - 15 (Hass, Duncan, Leung & Le, 2010).
Rối loạn lo âu cũng là một rối loạn phổ biến nhất ở lứa tuổi học đường. Các dạng lo âu khác nhau như rối loạn lo âu lan tỏa, lo âu học đường, lo âu chia tách, lo hãi. phổ biến ở mức từ 5. Một nghiên cứu khác vào 2013 tại Anh cũng chỉ ra có đến hơn 2 triệu thanh thiếu niên gặp vấn đ trầm cảm chủ yếu và trầm cảm là nguyên nhân chính dẫn đến tự tử ở thanh thiếu niên đất nước này (Ruble, Leon, Henley, Hess & Swartz, 2013).
Thông qua việc điểm luận thực trạng RNCX từ các nghiên cứu tại các quốc gia trên thế giới, có thể thấy tỉ lệ trẻ VTN gặp phải các vấn đ liên quan tới RNCX rất khác nhau, dao động từ 8. Sự khác biệt này tùy thuộc vào từng độ tuổi của trẻ được tiến hành nghiên cứu, công cụ, địa bàn tiến hành nghiên cứu và theo từng loại hình RNCX được nghiên cứu. Tuy nhiên, do sự khác biệt v thời điểm nghiên cứu, khách thể và công cụ nghiên cứu, do vậy, tỉ lệ không có sự thống nhất giữa các nghiên cứu khác nhau. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Nghiên cứu về các yếu tố liên quan Có nhi u yếu tố có thể ảnh hướng đến RNXC ở trẻ như các yếu tố thuộc đặc điểm tâm lý - cá nhân và các yếu tố thuộc đặc điểm tâm lý - xã hội. Các yếu tố thuộc đặc điểm tâm lý cá nhân có liên quan tới RNCX ở trẻ VTN được đ cập đến trong các nghiên cứu có thể kể đến: lòng tự trọng thấp, năng lực học tập kém, thời điểm trẻ được sinh ra. Lòng tự trọng thấp có ảnh hưởng đến RNCX (Chapman, P. Năng lực học tập kém cũng là yếu tố có ảnh hưởng đến nguy cơ trầm cảm ở học sinh (O’ Connell.
Một nghiên cứu khác tại Mỹ trên hơn 8000 trẻ em cũng chỉ ra một kết quả th vị khác liên quan giữa thời điểm trong năm trẻ được sinh ra với vấn đ RNCX. Trong đó, những trẻ được sinh ra vào tháng giêng và tháng sáu gặp vấn đ v RNCX nhi u hơn những người được sinh vào các tháng còn lại trong năm. Những trẻ được sinh vào các tháng mùa thu ít gặp vấn đ RNCX hơn các trẻ sinh vào các thời điểm khác (Martin, 2007). Các yếu tố thuộc đặc điểm tâm lý xã hội có liên quan tới RNCX ở trẻ VTN được đ cập đến trong nhi u nghiên cứu khác nhau trên thế giới.
Các yếu tố được chỉ ra rất đa dạng, bao gồm: hoàn cảnh, môi trường sống của trẻ, các vấn đ liên quan tới gia đình, cha mẹ và cả các vấn đ liên quan tới môi trường giáo dục. Các yếu tố môi trường, văn hóa xã hội, hoàn cảnh sống (bao gồm cả mối quan hệ với láng gi ng), bối cảnh chính trị, gia đình, cộng đồng, quốc gia nơi đứa trẻ được sinh ra có ảnh hưởng tới RNCX (Shakuntala, 2010), (Rudolp, 2015). Yếu tố gia đình, đặc biệt là mối liên hệ với các vấn đ từ người mẹ và cách thức giáo dục, đánh giá của cha mẹ với trẻ có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đ RNCX ở trẻ. Nghiên cứu của Boyle (1997) chỉ ra có mối liên quan giữa các triệu chứng trầm cảm ở người mẹ với vấn đ RNCX ở trẻ.
Nghiên cứu tại Hà Lan chỉ ra có mối liên hệ giữa vấn đ trầm cảm thứ phát ở cha mẹ và RNCX ở con cái. Tuy nhiên, mức độ trầm cảm khác nhau giữa con trai và con gái. Trong đó, con gái của các bà mẹ trầm cảm có nguy cơ RNCX cao hơn con trai của các ông bố bị trầm cảm (Landman-Peeters, 2008). Một nghiên cứu trường di n ở cấp độ quốc gia tại Canada từ năm 1994 chỉ ra mối liên quan giữa thời gian tiếp x c với các bà mẹ bị trầm cảm sau sinh và vấn đ RNCX khi trẻ đến tuổi VTN.
Theo đó, những trẻ có tiếp x c với 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tình trạng trầm cảm của bà mẹ sau sinh gặp phải vấn đ RNCX lớn gấp 2 lần so với các trẻ khác (Boyle, M. Nghiên cứu tại Đức cũng chỉ ra con gái của các bà mẹ có rối loạn cảm x c cũng gặp nguy cơ cao với vấn đ này (Montagner, 2015). Một nghiên cứu khác tại Anh trên 3976 trẻ VTN từ 11 - 17 tuổi theo phương pháp cắt ngang lại chỉ ra có mối liên hệ giữa những đánh giá của cha mẹ đến tình trạng sức khỏe hay RNCX ở trẻ VTN. Theo đó, những đánh giá tích cực của cha mẹ v trẻ có mối quan hệ với trạng thái khỏe mạnh ở trẻ (Taylor, Peter, 2013).
Một nghiên cứu khác cũng tại Anh chỉ ra có mối liên hệ giữa tình trạng kinh tế và thành phần gia đình với vấn đ RNCX. Nghiên cứu đã đi đến kết luận bất lợi kinh tế là một trong những nguy cơ liên quan tới RNCX ở trẻ (Emerson, Eric, 2007). Bên cạnh các yếu tố thuộc v gia đình, nghiên cứu tại Anh năm 2010 chỉ ra giáo viên có vai trò đáng kể trong việc phát hiện các vấn đ RNCX ở học sinh. Nếu giáo viên có khả năng phát hiện sớm vấn đ RNCX sẽ gi p làm giảm nguy cơ RNCX ở trẻ.
Tuy nhiên, nhận thức của giáo viên v RNCX nói riêng và SKTT nói chung ở trẻ còn hạn chế (Loades, 2010). Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra những yếu tố có liên quan tới RNCX ở trẻ em rất đa dạng. Những yếu tố đó có thể liên quan tới bản thân trẻ, gia đình, đặc biệt là với người mẹ, với hoàn cảnh mà trẻ sống và cả các yếu tố học đường.