Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn. Chương 2:Một số biện pháp sư phạm rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học giải bài tập Hình học lớp 9. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Khái niệm tư duy Trong thế giới hiện thực có rất nhiều cái con người chưa biết, chưa nhận thức được. Nhiệm vụ của cuộc sống luôn đòi hỏi con người phải hiểu thấu những cái chưa biết đó, phải vạch ra được cái bản chất và những quy luật tác động của chúng. Quá trình nhận thức đó gọi là tư duy (TD). Theo tâm lý học, tư duy là thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao – bộ não người.
Tư duy phản ánh thế giới vật chất dưới dạng các hình ảnh lý tưởng: “Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết” [10]. Quá trình phản ánh này là quá trình gián tiếp, độc lập và mang tính khái quát, được nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ sự nhận thức cảm tính nhưng vượt xa các giới hạn của nhận thức cảm tính. V Petrovski: “Tư duy là quá trình tâm lý liên quan chặt chẽ với ngôn ngữ. Ngôn ngữ - quá trình tìm tòi và sáng tạo ra cái chính yếu, quá trình phản ánh, cách từng phần học khái quát, thực tế trong khi phân tích và tổng hợp nó.
Tư duy sinh ra trên cơ sở thực tiễn, từ nhận thức cảm tính và vượt xa giới hạn của nó” trích theo [12]. Dưới góc độ giáo dục, có thể hiểu tư duy là hệ thống gồm nhiều ý tưởng, tức là gồm nhiều biểu thị tri thức về một vật hay một sự kiện. Nó dùng suy nghĩ hay tái tạo suy nghĩ để hiểu hay giải quyết một việc nào đó. Theo cách hiểu đơn giản nhất, TD là một loạt những hoạt động của bộ não diễn ra khi có sự kích thích.
Những kích thích này nhận được thông qua bất kì giác quan nào trong năm giác quan: xúc giác (touch), thị giác (sight), thính giác (sound), khứu giác (smell) hay vị giác (taste). Sacđacôp cho rằng: “Tư duy là sự nhận thức khái quát và gián tiếp những sự vật và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu những 7 thuộc tính chung và bản chất của chúng, trong những mối liên hệ và quan hệ của chúng; tư duy cũng là sự nhân thức và xây dựng sáng tạo những sự vật hiện tượng mới, riêng lẻ của hiện thực trên cơ sở những tri thức khái quát đã thu nhận được”. Tác giả đã nhấn mạnh vai trò của tri giác, của những liên tưởng trong thành phần cấu tạo nên tư duy. Đồng thời nhấn mạnh nội dung của tư duy chính là những tri thức về bản chất của sự vật được khái quát hóa và kết tinh trong khái niệm.
Các định nghĩa khác nhau về tư duy tuy không đồng nhất nhưng không phủ nhận nhau. Mỗi định nghĩa đều xuất phát từ một dấu hiệu nào đó về tư duy như đặc điểm tư duy, thao tác tư duy, sản phẩm của tư duy làm dấu hiệu quan trọng trong mỗi định nghĩa. Điểm cốt lõi trong các khái niệm mà các nhà nghiên cứu đưa ra chính là: Thứ nhất: Tư duy là một hoạt động nhận thức, giống các hoạt động nhận thức khác như cảm giác, tri giác, …nhằm khám phá thế giới. Thứ hai: Đối tượng phản ánh không phải là các vật liệu cụ thể như cảm giác, tri giác mà tư duy phản ánh nét chung của các hình ảnh cụ thể có được do cảm giác, tri giác mang lại sau đó khái quát để đưa về các dấu hiệu chung khái quát, bản chất về sự vật hiện tượng.
Thứ ba: Tư duy sử dụng các thao tác tư duy làm phương tiện. Thứ tư: Tư duy nhằm giải quyết một nhiệm vụ, một tình huống có vấn đề nhất định. Đặc điểm của tư duy TD mà con người là chủ thể chỉ nảy sinh khi gặp tình huống “có vấn đề”. Tuy nhiên vấn đề đó phải được cá nhân nhận thức đầy đủ, được chuyển thành nhiệm vụ cá nhân (cái gì đã biết, cái gì còn cần tìm kiếm), đồng thời nằm trong ngưỡng hiểu biết của cá nhân và là nhu cầu động cơ tìm kiếm của cá nhân.
Tiếp theo, TD luôn phản ánh cái bản chất nhất chung cho nhiều sự vật hợp thành một nhóm, một loại, một phạm trù, đồng thời trừu xuất khỏi những sự vật đó những cái cụ thể, cá biệt. 8 Ngoài ra, TD luôn phản ánh gián tiếp hiện thực. Trong TD, có sự thoát khỏi những kinh nghiệm cảm tính. Cuối cùng, ngôn ngữ có vai trò cố định lại các kết quả của TD và nhờ đó làm khách quan hóa chúng cho người khác và cho cả bản thân chủ thể TD [6].
Cụ thể, TD có một số đặc điểm sau: - Tính “có vấn đề của tư duy”: Tư duy chỉ nảy sinh khi gặp những hoàn cảnh, những tình huống mà bằng vốn hiểu biết cũ, những phương pháp hành động cũ đã có, con người không đủ để giải quyết. “Tình huống có vấn đề” phải được chủ thể tư duy nhận thức đầy đủ và chuyển nhiệm vụ tư duy. “Tình huống có vấn đề” phải vừa sức đối với chủ thể: Khộng quá khó và cũng không quá dễ. - Tính trừu tượng và khái quát của tư duy: Là khả trừu xuất (gạt bỏ) khỏi đối tượng những thuộc tính, những dấu hiệu cụ thể, cá biệt không cần thiết đối với nhiệm vụ mà chỉ để lại những thuộc tính bản chất, quy luật cần thiết cho quá trình tư duy.
- Tính khái quát của tư duy: Khả năng của tư duy cho phép con người bao quát chung những thuộc tính bản chất, những qui luật, những đặc điểm. của một loạt đối tượng. - Tính gián tiếp của tư duy: Thể hiện trước hết ở việc con người sử dụng ngôn ngữ để tư duy. Sử dụng những công cụ, phương tiện (như đồng hồ, nhiệt kế, máy móc…) để nhận thức những đối tượng khi không thể tri giác trực tiếp.
- Tư duy gắn liền với ngôn ngữ: Tư duy của con người gắn liền với ngôn ngữ. Chúng thống nhất nhưng không đồng nhất, cũng không tách rời nhau. Tư duy không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ và ngôn ngữ cũng không thể có nếu không dựa vào tư duy. - Tư duy quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính: Nhận thức cảm tính là nguồn cung cấp tư liệu cho tư duy.
Tư duy lại ảnh hưởng đến nhận thức cảm tính và nhờ tư duy mà con người tri giác nhanh chóng, chính xác hơn. Tư duy ảnh hưởng tới sự lựa chọn, tính ổn định, tính có ý nghĩa của tri giác. Các thao tác tư duy Trích theo [13], K.Platonôv sơ đồ hóa các giai đoạn của một hành động (quá trình) TD. Theo đó, mỗi hành động TD là một quá trình giải quyết một nhiệm vụ nẩy sinh trong quá trình nhận thức hay trong hoạt động thực tiễn.
Quá trình TD bao gồm nhiều giai đoạn từ khi gặp tình huống có vấn đề đến khi giải quyết nó rồi lại khởi đầu cho một hành động TD mới. Có thể nói, xác định được vấn đề là giai đoạn đầu tiên và quan trọng nhất của mỗi quá trình TD. Tiếp theo là việc huy động các tri thức, kinh nghiệm, những liên tưởng nhất định của bản thân chủ thể đến vấn đề đã được xác định và biểu đạt. Cuối cùng, khi giả thuyết đã được khẳng định và chính xác hóa thì nó sẽ được hiện thực hóa bằng câu trả lời, hay đáp số cho vấn đề đặt ra.
Vấn đề đã được giải quyết lại làm một khâu khởi đầu cho một hoạt động TD mới. Như vậy quá trình TD diễn ra theo các giai đoạn, cho dù vấn đề TD nảy sinh từ đâu, trong lý luận hay trong hoạt động thực tiễn, thì cũng đều diễn ra theo quy trình kể trên. Theo kết quả nghiên cứu của nhà tâm lí học J.Piaget định nghĩa thao tác như sau: “Thao tác chính là hành động được nội hiện (chuyển vào trong) và được rút gọn ở trong đó.” Trích theo [15]. Từ định nghĩa trên, có thể đưa ra những phân tích sau: Thứ nhất, thao tác là một hành động có nguồn gốc là hành động vật chất từ bên ngoài - hành động vật chất bên ngoài là yếu tố tiên quyết để có thể hình thành thao tác.
Điều này giống với quan điểm của các nhà tâm lí học Xô Viết. Về mặt logic hành động và thao tác không có sự khác biệt nào, chúng có chung một sơ đồ. Về mặt hình thức chúng khác hẳn nhau. Hành động diễn ra ngay trên đồ vật thật, một cách trực tiếp, hành động thực sự bao giờ cũng xảy ra một lần duy nhất và trôi vào quá khứ còn thao tác là hành động xảy ra trong đầu.
Thứ hai, thao tác là hành động chuyển từ bên ngoài vào bên trong và được nội hiện, được rút gọn. Thứ ba, quá trình chuyển vào trong xảy ra hai quá trình. + Quá trình xác nhập giữa các hành động với các yếu tố chủ quan của chủ thế như: sự chú ý, ý thức,. và quá trình xác nhập các hành động với nhau: hành động thuận và hành động ngược; hành động phân tích và khái quát, … 10 + Quá trình rút gọn: Hành động khi ở bên ngoài diễn ra theo một tiến trình cơ học có thể nhìn thấy (chỉ có một chiều hành động thuận và hành động ngược lại theo tuyến tính thời gian).
Khi chuyển vào trong được rút gọn và nhập vào nhau tạo thành hai mặt của một thao tác. Như vậy, một thao tác bao giờ cũng có tính thuận và nghịch còn hành động không có tính chất này. Từ những phân tích trên cũng có thể đưa ra khái niệm về thao tác tư duy như sau: Thao tác tư duy là hành động tinh thần có nguồn gốc từ hành động nhận thức bên ngoài, được chuyển vào trong đầu, được rút gọn và có tính chất đảo ngược, bảo toàn [15], Theo các kết quả nghiên cứu trong tâm lý học, TD diễn ra thông qua các thao tác sau: Thao tác phân tích: là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành các bộ phận, các thành phần khác nhau từ đó vạch ra được những thuộc tính, những đặc điểm của đối tượng nhận thức hay xác định các bộ phận của một tổng thể bằng cách so sánh, phân loại, đối chiếu, làm cho tổng thể được hiển minh.