Luận văn thạc sĩ rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh khá giỏi thông qua dạy học giải bài tập một số dạng phương trình sai phân

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh khá giỏi thông qua dạy học giải bài tập một số dạng phương, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sư phạm Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2016

123
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Khái niệm cơ bản của tư duy

1.2. Vấn đề phát triển năng lực tư duy

1.3. Dấu hiệu đánh giá tư duy phát triển

1.4. Tư duy sáng tạo

1.4.1. Khái niệm về sáng tạo

1.4.2. Quá trình sáng tạo

1.4.3. Cấu trúc của tư duy sáng tạo

1.5. Phương hướng bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học môn Toán

1.5.1. Bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh cần kết hợp với các hoạt động trí tuệ khác

1.5.2. Chú trọng bồi dưỡng từng yếu tố cụ thể của tư duy sáng tạo

1.5.3. Bồi dưỡng tư duy sáng tạo là một quá trình lâu dài cần tiến hành trong tất cả các khâu của quá trình dạy học

1.6. Thực trạng quá trình dạy và học về dạng toán tìm số hạng tổng quát của dãy số

1.7. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: RÈN LUYỆN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA CÁC BÀI TẬP VỀ TÌM SỐ HẠNG TỔNG QUÁT CỦA DÃY SỐ

2.1. Một số kiến thức cơ bản về dãy số

2.2. Giải bài tập tìm số hạng tổng quát của dãy số bằng cách sử dụng cấp số cộng và cấp số nhân

2.2.1. Phương trình sai phân tuyến tính bậc 1

2.2.2. Phương trình sai phân tuyến tính bậc 2

2.2.3. Một số dạng khác

2.3. Giải bài tập tìm số hạng tổng quát của dãy số bằng cách sử dụng phương pháp quy nạp toán học

2.4. Giải bài tập tìm số hạng tổng quát của dãy số bằng cách sử dụng phương pháp đổi biến

2.5. Giải bài tập tìm số hạng tổng quát của dãy số bằng cách sử dụng phương pháp lượng giác hóa

2.6. Giải bài tập tìm số hạng tổng quát của dãy số bằng cách sử dụng hàm lặp

2.7. Ứng dụng bài toán tìm công thức tổng quát vào các bài toán dãy số và tổ hợp

2.8. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm

3.2. Phương pháp thực nghiệm

3.3. Nội dung và tổ chức thực nghiệm

3.4. Kết quả của thực nghiệm sư phạm

3.5. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về rèn luyện tư duy sáng tạo qua phương trình sai phân

Rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục hiện đại. Phương trình sai phân, với tính chất phức tạp và đa dạng, là một công cụ hữu ích để phát triển tư duy sáng tạo. Việc áp dụng phương trình sai phân trong giảng dạy không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn kích thích khả năng tư duy độc lập và sáng tạo của các em.

1.1. Khái niệm về tư duy sáng tạo trong giáo dục

Tư duy sáng tạo là khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề một cách độc đáo. Trong giáo dục, việc phát triển tư duy sáng tạo giúp học sinh không chỉ học thuộc lòng mà còn hiểu sâu sắc và áp dụng kiến thức vào thực tiễn.

1.2. Vai trò của phương trình sai phân trong việc phát triển tư duy

Phương trình sai phân giúp học sinh hình thành khả năng phân tích và tổng hợp thông tin. Qua việc giải quyết các bài toán liên quan đến phương trình sai phân, học sinh có thể phát triển kỹ năng tư duy logic và sáng tạo.

II. Những thách thức trong việc rèn luyện tư duy sáng tạo qua phương trình sai phân

Mặc dù việc rèn luyện tư duy sáng tạo qua phương trình sai phân mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng tồn tại không ít thách thức. Học sinh thường gặp khó khăn trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, dẫn đến việc thiếu tự tin trong giải quyết vấn đề.

2.1. Khó khăn trong việc hiểu và áp dụng phương trình sai phân

Nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc hiểu các khái niệm cơ bản của phương trình sai phân. Điều này dẫn đến việc các em không thể áp dụng kiến thức vào thực tiễn một cách hiệu quả.

2.2. Thiếu động lực và hứng thú trong học tập

Một số học sinh không cảm thấy hứng thú với môn Toán, đặc biệt là các bài tập liên quan đến phương trình sai phân. Điều này ảnh hưởng đến khả năng phát triển tư duy sáng tạo của các em.

III. Phương pháp giảng dạy hiệu quả để rèn luyện tư duy sáng tạo

Để rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh qua phương trình sai phân, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy hiệu quả. Những phương pháp này không chỉ giúp học sinh hiểu bài mà còn kích thích khả năng sáng tạo của các em.

3.1. Sử dụng bài tập thực tiễn để kích thích tư duy

Giáo viên có thể sử dụng các bài tập thực tiễn liên quan đến phương trình sai phân để giúp học sinh áp dụng kiến thức vào thực tế. Điều này không chỉ giúp các em hiểu bài mà còn phát triển tư duy sáng tạo.

3.2. Khuyến khích học sinh tự nghiên cứu và khám phá

Khuyến khích học sinh tự tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phương trình sai phân sẽ giúp các em phát triển khả năng tư duy độc lập và sáng tạo.

IV. Ứng dụng thực tiễn của phương trình sai phân trong giáo dục

Phương trình sai phân không chỉ là một phần quan trọng trong chương trình học mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong cuộc sống. Việc hiểu và áp dụng phương trình sai phân giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề.

4.1. Ứng dụng trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật

Phương trình sai phân được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như vật lý, kỹ thuật và kinh tế. Việc hiểu rõ về phương trình sai phân giúp học sinh có thể áp dụng kiến thức vào thực tiễn.

4.2. Tác động đến sự phát triển tư duy của học sinh

Việc học và áp dụng phương trình sai phân không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển tư duy sáng tạo, khả năng phân tích và giải quyết vấn đề.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của việc rèn luyện tư duy sáng tạo

Việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh qua phương trình sai phân là một nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục hiện đại. Cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các phương pháp giảng dạy hiệu quả để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh.

5.1. Tầm quan trọng của việc phát triển tư duy sáng tạo

Tư duy sáng tạo là yếu tố quan trọng giúp học sinh thành công trong học tập và cuộc sống. Việc phát triển tư duy sáng tạo cần được chú trọng trong giáo dục.

5.2. Hướng đi tương lai cho giáo dục

Cần tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy, áp dụng công nghệ và các phương pháp học tập hiện đại để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 2 Rèn luyện tƣ duy sáng tạo cho học sinh thông qua các bài tập về tìm số hạng tổng quát của dãy số. Chƣơng 3 Thực nghiệm sƣ phạm. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông [16]: “Tƣ duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức nhƣ biểu tƣợng, khái niệm, phán đoán, suy lý”.

Theo từ điển bách khoa toàn thƣ Việt Nam [7]: “Tƣ duy là sản phẩm cao nhất của cái vật chất đƣợc tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận,… Tƣ duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất của con ngƣời và bảo đảm phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp với quy luật của thực tại”. Theo quan niệm của Tâm lý học [6]: “Tƣ duy là một quá trình tâm lý thuộc nhận thức lý tính, là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác. Tƣ duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tƣợng mà trƣớc đó ta chƣa biết”.2 Đặc điểm cơ bản của tư duy a) Tính có vấn đề Khi gặp những tình huống mà với hiểu biết đã có, phƣơng pháp hành động đã biết, chúng ta không đủ giải quyết, lúc đó chúng ta rơi vào “tình huống có vấn đề”, và có xu hƣớng cố vƣợt ra khỏi phạm vi những hiểu biết cũ để đi tới cái mới, hay nói cách khác chúng ta phải tƣ duy. b) Tính khái quát Tƣ duy mang tính khái quát do có khả năng phản ánh những thuộc tính chung, những mối quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật hiện tƣợng.

6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com c) Tính độc lập tương đối của tư duy Trong quá trình sống con ngƣời luôn giao tiếp với nhau, do đó tƣ duy của từng ngƣời vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân vừa chịu sự tác động biến đổi từ tƣ duy của đồng loại thông qua những hoạt động có tính vật chất. Do đó, tƣ duy không chỉ gắn với bộ não của từng cá thể ngƣời mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì đƣợc tính cá thể của một con ngƣời nhất định. Mặc dù đƣợc tạo thành từ kết quả hoạt động thực tiễn nhƣng tƣ duy có tính độc lập tƣơng đối. Sau khi xuất hiện, sự phát triển của tƣ duy còn chịu ảnh hƣởng của những tri thức mà nhân loại đã tích lũy đƣợc trƣớc đó.

Tƣ duy cũng chịu ảnh hƣởng, tác động của các lý thuyết, quan điểm tồn tại cùng thời với nó. Mặt khác, tƣ duy cũng có logic phát triển nội tại riêng của nó, đó là sự phản ánh đặc thù logic khách quan theo cách hiểu riêng gắn với mỗi con ngƣời. Đó chính là tính độc lập tƣơng đối của tƣ duy. d) Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ Nhu cầu giao tiếp của con ngƣời là điều kiện cần để phát sinh ngôn ngữ.

Kết quả tƣ duy đƣợc ghi lại bằng ngôn ngữ. Ngay từ khi xuất hiện, tƣ duy đã gắn liền với ngôn ngữ và đƣợc thực hiện thông qua ngôn ngữ. Vì vậy, ngôn ngữ chính là cái vỏ hình thức của tƣ duy. Ở thời kỳ sơ khai, tƣ duy đuợc hình thành thông qua hoạt động vật chất của con ngƣời và từng bƣớc đƣợc ghi lại bằng các ký hiệu từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến tập hợp, từ cụ thể đến trừu tƣợng.

Hệ thống các ký hiệu đó thông qua quá trình xã hội hóa và trở thành ngôn ngữ. Sự ra đời của ngôn ngữ đánh dấu bƣớc phát triển nhảy vọt của tƣ duy và tƣ duy cũng bắt đầu phụ thuộc vào ngôn ngữ. Ngôn ngữ với tƣ cách là hệ thống tín hiệu thứ hai trở thành công cụ giao tiếp chủ yếu giữa con ngƣời với con ngƣời, phát triển cùng với nhu cầu của nền sản xuất xã hội cũng nhƣ sự xã hội hóa lao động. e) Mối quan hệ giữa tư duy và nhận thức 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tƣ duy là công cụ, là nguyên nhân, là kết quả của nhận thức, đồng thời là sự phát triển cấpcao của nhận thức.

Xuất phát điểm của nhận thức là những cảm giác, tri giác và biểu tƣợng. đƣợc phản ánh từ thực tiễn khách quan với những thông tin về hình dạng, hiện tƣợng bên ngoài đƣợc phản ánh một cách riêng lẻ. Giai đoạn này đƣợc gọi là tƣ duy cụ thể. Ở giai đoạn sau, với sự hỗ trợ của ngôn ngữ, hoạt động tƣ duy tiến hành các thao tác so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, khu biệt, quy nạp những thông tin đơn lẻ, gắn chúng vào mối liên hệ phổ biến, lọc bỏ những cái ngẫu nhiên, không căn bản của sự việc để tìm ra nội dung và bản chất của sự vật, hiện tƣợng, quy nạp nó thành những khái niệm, phạm trù, định luật.

Giai đoạn này đƣợc gọi là giai đoạn tƣ duy trừu tƣợng.3 Những phẩm chất của tư duy a) Khả năng định hướng: Ý thức nhanh chóng và chính xác đối tƣợng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt đƣợc và những con đƣờng tối ƣu đạt đƣợc mục đích đó. b) Bề rộng: Có khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tƣợng khác. c) Độ sâu: Nắm vững ngày càng sâu sắc hơn bản chất của sự vật, hiện tƣợng. d) Tính linh hoạt: Nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách thức hành động vào những tình huống khác nhau một cách sáng tạo.

e) Tính mềm dẻo: Thể hiện ở hoạt động tƣ duy đƣợc tiến hành theo các hƣớng xuôi ngƣợc chiều. f) Tính độc lập: Thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện ra vấn đề, đề xuất cách giải quyết và tự giải quyết đƣợc vấn đề. g) Tính khái quát: Khi giải quyết một loại vấn đề nào đó sẽ đƣa ra đƣợc mô hình khái quát, trên cơ sở đó để có thể vận dụng để giải quyết các vấn đề tƣơng tự, cùng loại. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Các thao tác tư duy Quá trình tƣ duy đƣợc diễn ra bằng cách chủ thể tiến hành các thao tác trí tuệ.

Các thao tác trí tuệ cơ bản bao gồm a. Phân tích - tổng hợp Theo [13, tr.122]: Phân tích là chia một chỉnh thể ra thành nhiều bộ phận để đi sâu vào các chi tiết trong từng bộ. Tổng hợp là nhìn bao quát lên một chỉnh thể gồm nhiều bộ phận, tìm các mối liên hệ giữa các bộ phận của chỉnh thể và của chính chỉnh thể đó với môi trƣờng xung quanh. Phân tích và tổng hợp là hai hoạt động trí tuệ cơ bản của quá trình tƣ duy.

Những hoạt động trí tuệ đều diễn ra trên nền tảng của phân tích và tổng hợp. Phân tích và tổng hợp có quan hệ mật thiết không thể tách rời, chúng là hai mặt đối lập của một quá trình thống nhất. Phân tích tiến hành theo hƣớng tổng hợp, tổng hợp đƣợc thực hiện theo kết quả phân tích. Trong học tập môn toán phân tích và tổng hợp có mặt ở mọi hoạt động trí tuệ, là thao tác tƣ duy quan trọng nhất để giải quyết vấn đề.

So sánh – tương tự So sánh là thao tác tƣ duy nhằm xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật và hiện tƣợng. Muốn so sánh hai sự vật, hiện tƣợng ta phải phân tích các dấu hiệu, các thuộc tính của chúng, đối chiếu các dấu hiệu, các thuộc tính đó với nhau rồi tổng hợp lại xem hai sự vật, hiện tƣợng có cái gì giống và khác nhau. So sánh liên quan chặt chẽ với phân tích - tổng hợp và đối với các hình thức tƣ duy đó có thể ở mức độ đơn giản hơn nhƣng vẫn có thể nhận thức đƣợc những yếu tố bản chất của sự vật, hiện tƣợng. Tƣơng tự là một dạng so sánh mà từ hai đối tƣợng giống nhau ở một số dấu hiệu, rút ra kết luận hai đối tƣợng đó cũng giống nhau ở dấu hiệu khác.

9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Do đó, tƣơng tự là sự giống nhau giữa hai hay nhiều đối tƣợng ở một mức độ nào đó, trong một quan hệ nào đó.Polya: “Hai hệ là tương tự nếu chúng phù hợp với nhau trong các mối quan hệ xác định rõ ràng giữa bộ phận tương ứng” [12, tr. Khái quát hoá, đặc biệt hoá, trừu tượng hoá Khái quát hoá là thao tác tƣ duy nhằm hợp nhất nhiều đối tƣợng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ hay quan hệ chung nhất định. Các thuộc tính chung đó gồm hai loại: những thuộc tính chung giống nhau và những thuộc tính chung bản chất.: “Khái quát hoá là chuyển từ một tập hợp đối tượng lớn hơn chứa tập hợp ban đầu bằng cách nêu bật một số đặc điểm chung của các phần tử trong tập hợp xuất phát”. Theo Polya: “Khái quát hoá là chuyển từ việc nghiên cứu một tập hợp đối tượng đã cho đến việc nghiên cứu một tập hợp lớn hơn, bao gồm cả tập hợp ban đầu” [20, tr.

Nhƣ vậy có thể hiểu khái quát hoá là quá trình đi từ cái riêng, cái đặc biệt đến cái chung, cái tổng quát, hoặc từ một tổng quát đến một tổng quát hơn. Trong toán học, ngƣời ta thƣờng khái quát một yếu tố hoặc nhiều yếu tố của khái niệm, định lý, bài toán… thành những kết quả tổng quát. Đặc biệt hoá là thao tác tƣ duy ngƣợc lại với khái quát hoá. Mối quan hệ giữa khái quát hoá và đặc biệt hoá thƣờng đƣợc vận dụng trong tìm tòi, giải toán.

Từ một tính chất nào đó, ta muốn khái quát hoá ta thử đặc biệt hoá. Nếu kết quả là của đặc biệt hoá là đúng thì ta mới tìm cách chứng minh dự đoán từ khái quát hoá. Nhƣng nếu sai thì dừng lại. Trừu tƣợng hoá: Trừu tƣợng hoá là thao tác tƣ duy nhằm gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ thứ yếu, không cần thiết và chỉ giữ lại các yếu tố cần thiết cho tƣ duy.

Sự phân biệt bản chất hay không 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bản chất ở đây chỉ mang nghĩa tƣơng đối, nó phụ thuộc mục đích hành động. Tác giả [5] cho rằng: “Trừu tượng hoá và khái quát hoá liên hệ chặt chẽ với nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ