CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lược sử nghiên cứu bài tập và sử dụng bài tập trong dạy học 1.Trên thế giới Trên thế giới, việc nghiên cứu phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh đã xuất hiện từ năm 1920, khi đó đã hình thành những nhà trường mới nhằm phát huy năng lực, trí tuệ của trẻ, khuyến khích các hoạt động do học sinh tự quản. Xu hướng này nhanh chóng ảnh hưởng sang Mỹ và các nước châu Âu khác. [18] Khổng tử (551 – 479 trước CN) người Trung Quốc đã quan tâm đến sự kích thích tư duy của HS.Conmensky (1592 – 1679) nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc thế kỉ XVII đã đưa ra các biện pháp dạy học khiến HS phải tìm tòi suy nghĩ để nắm được bản chất sự vật hiện tượng.
Bộ giáo dục Pháp trong giai đoạn 1970 – 1980 đã chủ trương khuyến khích các biện pháp giáo dục để tăng cường các hoạt động tích cực, tự lực của HS. Định hướng giáo dục 10 năm của Pháp ghi rõ “Về nguyên tắc, mọi hoạt động giáo dục đều phải lấy HS làm trung tâm”. Ở Liên Xô cũ đã đưa các bài tập di truyền vào dạy học ở đại học và phổ thong từ năm 1970. Ở Việt Nam Ở Việt nam trong những năm gần đây đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề xây dựng và sử dụng câu hỏi bài tập trong dạy học để phát huy tính tích cực của học sinh.
Nhiều tác giả đã biên soạn các cuốn sách về câu hỏi, bài tập sinh học giúp học sinh ôn tập, củng cố, hoàn thiện, nâng cao kiến thức như: Đặng Hữu Lanh- Lê Đình Trung- Bùi Văn Sâm “Bài tập 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sinh học 11”, Lê Đình Trung- Đặng Hữu Lanh- Nguyễn Minh- Công “Bài tập sinh học 12”, Lê Đình Trung “100 câu hỏi chọn lọc và trả lời về di truyền- biến dị”, “Các dạng bài tập chọn lọc về di truyền- biến dị” , Vũ Đức Lưu “ Tuyển chọn- phân loại bài tập di truyền hay và khó”, Lê Đình Trung “150 câu hỏi chọn lọc và trả lời về tiến hoá, sinh thái học, cơ sở chọn giống” và nhiều tác giả khác. Trong các tài liệu này, các tác giả chủ yếu đưa ra các câu hỏi , phân loại bài tập và các đáp án với cách giải ngắn gọn, giúp học sinh dễ dàng ôn tập, rèn luyện kỹ năng giải bài tập chuẩn bị cho các kỳ thi [12, 13, 14, 15]. Luận án phó tiến sĩ của Nguyễn Đức Thành (1989) “Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy các định luật di truyền” đã nghiên cứu việc sử dụng câu hỏi, bài tập vào các quá trình dạy- học các quy luật di truyền trong khâu nghiên cứu tài liệu mới, củng cố, hoàn thiện kiến thức, thông qua đó rèn luyện một số kỹ năng cơ bản giải bài tập di truyền. Luận án phó tiến sĩ của Vũ Đức Lưu(1994) “Xây dựng và sử dụng bài tập quy luật di truyền vào dạy học ở THPT” và các công trình khác của tác giả [14, 15].
Luận án phó tiến sĩ của lê Đình Trung (1994) “ Xây dựng và sử dụng BTNT để nâng cao hiệu quả dạy học phần cơ sở vật chất và cơ chế di truyền trong chương trình Sinh học ở bậc phổ thông trung học” [18]. Trong luận án này, tác giả đã đề xuất biện pháp sử dụng BTNT kết hợp với câu hỏi tự lực làm việc với SGK để tổ chức hoạt động học của học sinh trong khâu nghiên cứu tài liệu mới, củng cố và nâng cao kiến thức. Ngoài ra, còn nhiều luận án, luận văn của nhiều tác giả khác cũng đã nghiên cứu về việc xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tập trong các phần khác nhau của chương trình Sinh học phổ thông trung học [4, 10]. Trong các đề thi đại học tốt nghiệp THPT môn sinh học hàng năm đều có sử dụng bài tập và chiếm tới 30% - 40% tổng số điểm.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm về năng lực Trong Khoa sư phạm tích hợp [23, tr 91], có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Theo Gerard và Roegies ( 1993), năng lực là một tập hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống đó tương đối thích hợp một cách tự nhiên. Theo De Ketele (1995), năng lực là một tập hợp trật tự các kĩ năng tác động lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do tình huống này đặt ra.
Định nghĩa này nêu bật ba thành phần của năng lực: nội dung, kĩ năng và tình huống. Năng lực = ( những kĩ năng + những nội dung) x những tình huống. Định nghĩa sau đây phối hợp những ưu điểm của cả hai định nghĩa trên: Năng lực là sự tích hợp các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loại hình tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do những tình huống này đặt ra. Qua các định nghĩa trên cho thấy năng lực gồm 3 thành phần cơ bản là kiến thức, kĩ năng và tình huống.
Trong đó qui về kĩ năng, mà kĩ năng là khả năng thực hiện được trên nội dung. Như vậy rốt cuộc năng lực được hiểu là khả năng thực hiện thành công một nội dung trong một hoàn cảnh xác định. Khái niệm về tư duy Tư duy là một quá trình tâm lí mà nhờ đó con người phản ánh những đối tượng và hiện tượng của hiện thực thông qua những dấu hiệu bản chất của chúng, đồng thời con người vạch ra được những mối liên hệ khác nhau trong mỗi đối tượng, hiện tượng và giữa các đối tượng, hiện tượng với nhau.92-100] Hoặc có thể hiểu: Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết. * Các hình thức của tư duy 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Hình thức tư duy khái niệm: là hình thức của tư duy về một tư tưởng phản ánh những dấu hiệu những thuộc tính chung, tính chất của tư tưởng đó.
- Tư duy phán đoán: là một hình thức của tư duy biện chứng là công cụ để thể hiện tính biện chứng của những mối quan hệ với những đặc điểm của đối tượng - Hình thức tư duy suy lí : là hình thức của tư duy đi từ những khái niệm, tri thức đã được biết để đưa ra những phán đoán mới 1. Khái niệm về năng lực tư duy Về năng lực tư duy: Có thể chia thành 4 cấp độ như sau: - Cấp 1: Tư duy cụ thể: Chỉ có thể suy luận trên các thông tin cụ thể này đến thông tin cụ thể khác. - Cấp 2: Tư duy logic: Suy luận theo một chuỗi có tổng hợp tuần tự, có khoa học và có phê phán nhận xét. - Cấp 3: Tư duy hệ thống: Suy luận tính chất tiếp cận một cách có hệ thống các thông tin hoặc các vấn đề nhờ đó có cách nhìn bao quát hơn.
- Cấp 4: Tư duy trừu tượng: Suy luận các vấn đề một cách sáng tạo và ngoài các khuôn khổ quy định. Với các tiêu chí đánh giá trình độ nhận thức và tư duy của HS như trên, trong quá trình dạy học nói chung và dạy học sinh học nói riêng mỗi GV cần phải chú ý phối hợp nhiều hình thức dạy học cho phù hợp nhằm phát triển tư duy cho HS. Khái niệm bài tập “Bài tập là một nhiệm vụ mà người giải cần phải thực hiện, trong bài tập có các dữ kiện và yêu cầu cần tìm”. [20] Bài tập có thể là những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi mà trong khi hoàn thành chúng học sinh nắm được một tri thức hay một kĩ năng nhất định hoặc hoàn thiện tri thức, kĩ năng đã có.
Một bài tập có hai dấu hiệu cơ bản là: dấu hiệu về mặt thuật toán và dấu hiệu câu hỏi định hướng thực hiện nội dung. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Dấu hiệu về mặt thuật toán chính là các dữ kiện (giả thiết) của bài tập, nó phô bày những dấu hiệu liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình tìm ra lời giải. Các giả thiết này người học đã biết toàn bộ hoặc một phần hoặc hoàn toàn chưa biết. Các dấu hiệu trong giả thiết thường lộn xộn không theo một trật tự lôgic nào.
[18] - Dấu hiệu kết luận bằng câu hỏi định hướng hoạt động giải bài tập chính là yêu cầu cần tìm của bài tập. Số lượng kết luận nhiều hay ít tuỳ thuộc vào dấu hiệu trong giả thiết. Nếu bài tập được giáo viên gia công, thêm bớt các trị số giữa cái đã biết và cái chưa biết, thêm bớt các dữ kiện dựa trên hoàn cảnh cụ thể của quá trình dạy học, phù hợp với tâm, sinh lý và năng lực nhận thức thì nó sẽ có tác dụng kích thích người học chuyển tải được một lượng kiến thức nào đó thông qua tư duy cụ thể của người học thì các bài tập đó được gọi là bài toán nhận thức. Trong trường hợp này, đáp số chính là một tri thức mới mà người học cần phải lĩnh hội.
Bài tập được thiết kế từ tài liệu sách giáo khoa mà học sinh phải vận dụng những điều đã học để tìm lời giải nhằm hình thành kiến thức mới. Bài tập cũng dùng trong khâu củng cố, hoàn thiện kiến thức hay kiểm tra đánh giá mức độ nhận thức của học sinh về những kiến thức đã học. Phân loại bài tập * Dựa vào mục đích dạy học BT có thể chia thành: [10] BT hình thành kiến thức mới, BT củng cố hoàn thiện kiến thức, BT dùng để kiểm tra đánh giá. * Dựa vào tính chất mối quan hệ trong BT chia thành: BT định tính; BT định lượng * Dựa vào phương pháp hình thành kĩ năng giải BT chia thành: BT mẫu; BT tương tự; BT biến đổi; BT lí thuyết; BT thực hành * Dựa vào mức độ khó của các mối quan hệ trong BT chia thành: 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com BT cơ bản; BT tổng hợp; BT nâng cao 1.
Vai trò của bài tập trong dạy học Bài tập giúp học sinh tập dượt óc tư duy logic, luôn luôn tạo ra những phán đoán theo nhiều hướng khác nhau để từ đó khám phá ra được con đường nhận thức tốt nhất về sản phẩm cần nhận thức- Gọi là phương pháp học sáng tạo hay học khám phá (phương pháp kích não).